Nhà Thờ Họ Ninh Tại Yên Mỹ - Yên Mô - Ninh Bình

Gia phả họ Ninh tại làng Côi Trì xã Yên Mỹ huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình

Nhà Thờ Họ Ninh Tại Trang Kỳ

Dòng họ Ninh Tại thôn Tràng Kỷ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Nhà Thờ Họ Ninh Xá

GIA phả họ Ninh Thôn Ninh Xá, xã Lên Ninh, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương

Nhà Thờ Họ Ninh Tại Song Khuê

Dòng họ Ninh Tại xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Tiểu Sử Về Cụ Ninh Địch

Họ Ninh  theo tổ tiên truyền lại vốn quê ở Ninh Xá huyện Vọng Doanh ( nay là huyện Ý Yên tỉnh Nam Định) vào niên hiệu Hồng Đức thời vua Lê Thánh Tông, ông tổ 8 đời đến huyện Yên Mô – Ninh Bình sinh sống, cùng nhau khai hoang lập ấp trở thành một xã, xin được đặt tên là Khôi Đàm sau này vì kiêng húy ( có lẽ là tránh tên Duy Đàm của Lê Thái Tông năm 1573- 1600) Khôi Đàm được đổi là Khôi Trì.

Cha của Ninh Địch từng thi đỗ hương cống, sau này làm tới quan tri huyện ở Quảng Bình, mẹ của Ninh Địch là người họ Thiệu quê ở Thanh Liêm ( Hà Nam ) Ninh Địch được sinh vào năm 1687 tỏ ra được tiên thiên chúng đức vẹn toàn, khí mạo vững vàng, dáng vẻ tuấn tú. Tuổi ngày một lớn trí thông minh ngày một mẫn tiệp. Hồi còn nhỏ Ninh Địch đi thơ thẩn trên đường gặp đúng quan huấn đạo. Vị quan trông cậu bé lanh lợi, thấy làm vui thích bèn ra đối rằng ” Xuân đáo bách hoa khai” ( nghĩa là xuân tới trăm hoa khoe). Ninh Địch đáp luôn ” nhật xuất thiên sơn chiếu” ( nghĩa là nắng rạng ngàn núi tỏa). Dù có đôi chút sai liêm luật nhưng vế đối lại tràn ngập tương lai rạng rỡ. Quan huấn đạo kinh ngạc khen rằng ” bé mà thông minh thế này, ngày sau sự nghiệp ắt là lớn lao làm vẻ vang cho nghiệp học nước nhà” rồi tặng quà cho chú bé.
Hơn 10 tuổi sức học của Ninh Địch đã sâu rộng, ý tứ dồi dào. Năm 14 tuổi (1700) Ninh Địch theo học quan thượng thư bộ hình, thiếu bảo lỵ quận công là Trương Công Khải ở Thanh Liêm Hà Nam đây cũng là quê mẹ đẻ của Ninh Địch, trong các kỳ khảo hạch địa phương, vị quan chấm bài rất sát sao, Ninh Địch vẫn thường xếp hàng đầu.
Năm 17 tuổi Ninh Địch cắp sách nhập trường tiến sỹ Nguyễn Hữu Đăng quê làng Đông Tác huyện Thọ Xương – Hà Nội, vị tướng sỹ này rất nghiêm khắc trong đào luyện học trò, các kỳ tập văn ở trường trang trọng như kỳ thi chính, rồi Ninh Địch lại theo học trường báo thiên của thám hoa Vũ Thạch năm 19 tuổi( 1705) Ninh Địch theo cha dự thi hương Ninh Địch đỗ hàng thứ 4.
Năm 24 tuổi triều đình lệnh cho bộ lại mở kỳ khảo duyệt, Ninh Địch quyết trí tỏ rõ bút lực quan chấm thi là Nguyễn Công Hãng (tiến sỹ năm 1700) kinh ngạc đây là văn của tiến sỹ còn gì ! Quan chủ ty là Nguyễn Qúy Đức(tiến sỹ năm 1676) giật mình: đáng tiến sỹ thật nhưng danh sách cập đệ vốn đã định rồi, thông tin ấy không được truyền rộng ra nhưng bào văn ấy của Ninh Địch được xếp hạng ưu, đứng đầu sau đó Ninh Địch nhận chức huấn đạo phủ Nghĩa Hưng ( nay thuộc Nam Định). Năm 32 tuổi cha con Ninh Địch hưởng ứng chiếu cầu hiền của chua An Đô Vương Trịnh Cương về kinh đô Tràng An dự thi hội, ba trường thi trôi qua 2 anh em Ninh Địch, Ninh Ngạn hợp cách vào trường thứ 4, bài thi của  Ninh Địch được các quan khen ngợi đánh giá cao, khoa thi hội này Ninh Địch đậu thứ 4 trong số 17 người trúng cách, cháu Trịnh Cương cầm tay Ninh Địch đích thân tuyên bố giữa triều đình ” ta có Mã Chu ( một danh tướng kỳ tài được Đường THái Tông 4 lần sai sứ giả đi mời về triều ) kề cận đây rồi, khỏi nhọc sức sứ giả đi mời nữa”.
Năm 1718 ngày 25 Âm lịch triều đình mở kỳ thi điện, đề ra thánh nhân trị thiên hạ quy định 64 câu khao này Vũ Công Tế quê ở xã Hải Bối – Gia Lâm- Hà Nội đỗ thám hoa, Nguyễn Toàn quê ở Lỗ Bạt Thường Tín – Hà Tây và Ninh Địch đậu Hoàng Giap. Từ đây đường quan mở lối, Ninh Địch trải qua các chức: Hiệu Lý viện Hàn Lâm, đốc đống trấn Hải Dương tại Hải Dương, trong vòng 2 năm Ninh Địch đã dẹp yên được các đảng gian các nhóm trộm cướp sử lý thỏa đáng các vụ kiện cáo, dân trong vùng thành tâm tín phục, bạn đồng niêu thực dạ mến yêu, vì lập được chiến tích lớn này nên ông được thăng đãi chế viện Hàn Lâm và vẫn giữ đốc đồng Hải Dương như ý nguyện của dân lành.
Tuy bận rộn việc quan nhưng Ninh Địch ko lơi là tâm nguyện của người con, cháu hiếu hiển đối với tổ tông, làng xóm, ông đứng ra việc dựng từ đường của dòng họ Ninh, xây miếu, đình của xã nhà( Côi Trì) xây đền thờ tiên hiền của huyện Yên Mô. Vào tuổi 40 (1726) Ninh Địch lại nhận chức phúc khảo các bài thi hương trong địa phương mình. Việc này chẳng khác gì một thử thách về nhân phẩm, không một ai ko ca tụng, Ninh Địch xét bào công bằng, kết quả phần lớn kẻ sỹ do ông tiến cử đều trúng cách.
Năm 1734 vào ngày 18/4 âm lịch, Ninh Địch qua đời giữa mùa hè oi nồng, triều đình truy tặng Hàn Lâm viện thừa chỉ. Ninh Địch tạ thế giữa độ đang sung sức, để lại vị trí bỏ trống trong văn đàn đương thời, gây nên nỗi thương tâm lâu dài hco anh em họ tộc. Em trai ông là Ninh Ngạn hiệu Dã Hiên là qua tới chức Hiến Phó sứ là cha của Ninh Tốn, khi viết về cuộc đời anh mình vẫn còn ngập tràn nuối tiếc, cũng như sự nuối tiếc của học giả các đời sau, chỉ được viết văn tài của ông qua tên một số tác phẩm như bài Phú nghiêu cứ hỏa đức, quân thần nghĩa…
Cuộc đời của Ninh Địch người con của Ninh Bình có thể còn nhiều điều chưa được làm sáng tỏ, văn nghiệp của ông có thể còn nằm sâu đâu đó giữa lớp bụi thời gian. Nhưng chí khí của Ninh Địch thì chưa bao giờ mòn mỏi ông thường nói ” việc học của người quân tử, đã không thì thôi đã làm ắt sẽ thành”.

Nguồn: Tàng Thư Viện VN

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Tiểu Sử Về Cụ Tổ Ninh Tốn

Cụ Tổ Ninh Tốn (chữ Hán: 寧遜, 1744-1795), tự Khiêm Như sau đổi là Hi Chí, hiệu Mẫn Hiên, Chuyết Sơn cư sĩ, Song An cư sĩ; là nhà thơ, nhà sử học, và là đại thần thời Lê trung hưng và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.


Thân Thế Và Sự Nghiệp

Ông là người Côi Trì, nay thuộc xã Yên Mỹ huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Theo bia "Côi Trì bi ký" do Ninh Tốn soạn năm 1769, thì tổ tiên ông trước ở Ninh Xá, huyện Chí Linh (Hải Dương). Tuy nhiên, Bia "Dã Hiên Tiên Sinh Mộ Biểu", sách Ninh Tướng Công Hành Trạng và Gia phả họ Ninh tại Côi Trì viết tổ tiên ông là Ninh công tự Doãn Chung từ thôn Ninh Xá huyện Vọng Doanh (nay thuộc xã Yên Ninh huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) tới "chiếm xạ"  tại Côi Trì vào khoảng năm Hồng Đức triều Hậu Lê khai khẩn đất rồi định cư luôn ở đó.

Cha Ninh TốnNinh Ngạn (hiệu Dã Hiên, Hy Tăng), một ẩn sĩ, là tác giả của hai tập sách: Vũ Vu thiển thuyết (Lời bàn nông cạn về thú ở ẩn) và Phong vinh tập (Tập thơ văn Vịnh gió). Bác của Ninh TốnNinh Địch, đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất (1718) đời Lê Dụ Tông.


Từ nhỏ, Ninh Tốn đã nổi tiếng là thông minh, được cha cho trọ học ở kinh đô Thăng Long. Năm 1762, ông đỗ Hương cống (tức Cử nhân). Sau đó, ông tiếp tục theo học với Tiến sĩ Vũ Huy Đĩnh. Ở đây ông kết thân với hai bạn học là Phạm Nguyễn Du và Vũ Huy Tấn.

Làm quan thời Lê Trịnh (1770-1787)

Năm Canh Dần (1770), lúc 27 tuổi, Ninh Tốn có đến chơi rồi đề thơ ở núi Vân Lỗi (thuộc Thanh Hóa). Một hôm, chúa Trịnh Sâm đi xem xét phong tục, ngự chơi núi ấy, thấy bài thơ trên, liền mến tài thơ mà triệu ông vào giữ chức Thiêm tri binh phiên.

Năm Ất Mùi (1775), ông vâng lệnh vào triều nhận chức Hiệu thảo thự Sơn Nam hiến sứ. Theo Việt sử thông giám cương mục thì năm này, ông cùng với Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Sá lo việc biên soạn Quốc sử.

Năm 1776, ông có tờ khải về các tệ nạn ở vùng ven biển ven sông, cùng nạn các lại dịch lấy cớ vì việc công để thu lúa, thu thủy sản, làm cho dân khổ. Nhờ vậy, nên có lệnh cấm nghiêm.

Năm Đinh Dậu (1777), ông làm Nhập thiêm sai công phiên, nhiều lần được theo xa giá đi công cán. Trong những chuyến đi ấy, ông đã sáng nhiều thơ, sau gom lại thành tập "Tây hộ mạn hứng" (Những cảm hứng tản mạn trên đường hộ giá phía Tây), được Ngô Thì Nhậm, Phạm Nguyễn Du đánh giá cao.

Năm Mậu Tuất (1778), ông đỗ Hội nguyên tiến sĩ năm 35 tuổi, được cử làm Phụng tá quân hải lộ.

Năm 1779, ông được thăng tứ phẩm. Cha ông là Hy Tăng được phong Hàn lâm viện thị độc, mẹ là Lê Thị Liệu được tặng Nghi nhân.

Năm Canh Sửu (1781), lúc ông 38 tuổi, được giữ chức Thiêm sai tri binh phiên, làm ở Viện cơ mật kiêm Quốc sử quốc luật toản tu, Đông các đại học sĩ, Thự Hình bộ hữu thị lang. Nhân lúc mang cáo sắc phong trở về làng, ông đi chơi núi Chuyết Sơn và làm tập Chuyết Sơn thi tự.

Năm 1786, ông làm Hiệp trấn ở Động Hải (thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình). Khi quân Tây Sơn đoạt thành Phú Xuân (1786), tiến đánh ra các đồn Cát Thanh, Động Hải thì ông bỏ đồn mà chạy . Nhưng sau đó vẫn được giao chức Tham tri chính sự kiêm Bồi tụng cùng với Ngô Trọng Khuê.


Năm 1787, quân Tây Sơn do Võ Văn Nhậm chỉ huy đánh ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh tâu với vua Lê Chiêu Thống, cho Nguyễn Như Thái làm Thống lĩnh, Ninh Tốn làm Tham tán quân vụ, đem quân họp với quân của Lê Duật, chống lại. Vốn là người Côi Trì, am hiểu rõ vị trí chiến lược của Tam Điệp nên ông khuyên Nguyễn Như Thái nhanh chóng chiếm giữ để ngăn quân Tây Sơn. Nhưng mới tới Phủ Lý thì quân của Võ Văn Nhậm đã vượt qua Tam Điệp. Lê Duật bị Ngô Văn Sở giết chết ở Cao Lũng, Nguyễn Như Thái bị tên bắn chết sau khi thua trận ở sông Giản (thuộc Ninh Bình), còn Ninh Tốn nhờ trốn vào nhà dân được thoát nạn.
Làm quan thời Tây Sơn (1788-1790)

Năm 1788, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra Bắc Hà diệt Vũ Văn Nhậm, rồi cho sắp đặt lại quan chức. Ninh Tốn được phong chức Hàn lâm trực học sĩ, để cùng với Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Du, Phan Huy Ích giúp Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm, cai quản đất Bắc.

Có các nhận định khác nhau về việc Ninh Tốn ra phục vụ Tây Sơn. Các tác giả của sách Thơ văn Ninh Tốn cho rằng đó là sự thức thời, tuy nhiên sách Đại Nam Liệt Truyện viết "Ninh Tốn trước trốn tránh không chịu ra, Huệ bắt em là Hương Công lôi ra chém đi để cho Tốn sợ, sau Ninh Tốn mới ra".

Theo sử liệu  thì Ninh Tốn làm quan nhà Lê trải đến chức Hữu Thị lang, tước Trường nguyên bá. Khi nhà Lê mất, ông tiếp tục phục vụ nhà Tây Sơn, giữ chức Thượng thư Bộ Binh, tước hầu. Và nhờ năm Canh Tuất (1790), ông có đề tựa tập thơ Hoa trình học bộ tập của thầy học là Vũ Huy Đĩnh và đề tựa cuốn sách y học Thai sản điều lý phương pháp tự của bạn là Hoàng Phong Ôn Phủ (tức Nguyễn Thế Lịch), mà người đời sau biết được vào năm đó (47 tuổi) ông đã xin về nghỉ ở quê.

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì Ninh Tốn mất năm 1790. Tuy nhiên, theo Gia phả họ Ninh, thì ông mất ngày 5 tháng 5 năm Ất Mão (1795).


Tác phẩm

Tác phẩm chính của Ninh Tốn là bộ Chuyết Sơn thi tập (Tập thơ Chuyết Sơn), trong đó bao gồm cả tập Tây hộ mạn hứng. Đây là bộ sách do con cháu ông sưu tập, hiện chỉ còn 275 bài thơ và 7 bài gồm văn sách, phú, tựa, văn bia...Tất cả đều bằng chữ Hán. Phần lớn, chúng được sáng tác dưới thời Lê-Trịnh. Còn những sáng tác dưới thời Tây Sơn, theo nhóm tác giả sách Thơ văn Ninh Tốn, thì chắc mất mát nhiều, vì con cháu không dám lưu giữ.

Hiện ở Thư viện Hán Nôm (Hà Nội) còn giữ được 3 tập của ông, đó là:

Chuyết Sơn thi tập, mang ký hiệu: A.1292.
Chuyêt Sơn thi tập đại toàn, mang ký hiệu: A.1407.
Tiền Lê tiến sĩ Ninh Tốn thi tập, mang ký hiệu: A.350.
Trong ba cuốn trên có nhiều bài trùng lập.


Năm 1984, một nhóm biên soạn (Hoàng Lê chủ biên) thuộc Viện Hán Nôm (Hà Nội) đã tuyển chọn ra 107 bài thơ và 1 bài tựa Hoa trình học bộ tự để in thành tác phẩm Thơ văn Ninh Tốn (Nxb KHXH, Hà Nội, 1984).

Ghi công
Cụ Ninh Tốn được thờ ở Nhà thờ Ninh Tốn, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Đây là một di tích lịch sử quốc gia của Việt Nam. Tên của ông cũng được đặt cho những con đường ở trung tâm thành phố Ninh Bình, ở thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình, tại Thị trấn Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh, tại thành phố Đà Nẵng.

Nguồn tham khảo:
Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí (2 tập). Nxb Văn học, 1984.
Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút. Nxb Trẻ & Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP. HCM hợp tác ấn hành, 1989.
Nhiều người soạn, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3). Nxb Văn học, 1978.
Nhiều người soạn (Hoàng Lê chủ biên), Thơ văn Ninh Tốn. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1984.
Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb KHXH, 1992.
Tạ Ngọc Liễn, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam. Nxb Thanh Niên, 2008.