Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

Gia Phả Họ Ninh Tại Trung Đồng Yên Mô Ninh Bình

Gia Phả Họ Ninh

Tại Trung Đồng (nay là thôn Trung Đồng Xã Yên Nhân Huyện Yên Mô Tỉnh Ninh Bình) 

Thuỷ tổ họ Ninh Cụ Tự Phúc Lâm  cùng với 5 dòng họ khác đến khai hoang lập ấp xây dựng làng Ninh Xá Hạ, xã Yên Ninh, huyện  Ý yên, Nam Định từ năm 901. Từ đây dòng họ Ninh được sinh sôi và phát triển cùng với lịch sử của đất nước. Cụ mất ngày 16 tháng 3, cụ bà huý là Hiệu. Đến thời Lê hông Đức tại Ninh Xá họ Ninh có tám ngành:
Gia Phả Họ Ninh Tại Trung Đồng Yên Mô Ninh Bình

1. Cụ Ninh Hiệu tự Phúc Hiệu              5. Cụ Ninh Thọ tự Phúc Thọ

2. Cụ Ninh Lành tự Phúc Lành             6. Cụ Ninh Đức  tự Phúc Đức

3. Cụ Ninh Hậu  tự Phúc Hậu               7. Cụ Ninh Thuật tự Phúc Thuật

4. Cụ Ninh Cẩn  tự Phúc Cẩn                8. Cụ Ninh Chung tự Doãn Chung

  Bảy ngành ở lại Ninh Xá.

 Ngành thứ tám là: Cụ Doãn Chung, vào chiếm xạ khai hoang, lập ấp tại Côi Trì nay là xã Yên Mỹ Huyện Yên Mô Tỉnh Ninh Bình.

Đến đời thứ 7 (kể từ đời cụ Doãn Chung) cụ Phúc Thiện con trai cả cụ Huyền Thọ đến Trung  Đồng (nay là thôn Trung Đồng Xã Yên Nhân Huyện Yên Mô Tỉnh Ninh Bình) khai hoang lấn biển mở mang đồng ruộng, sinh cơ lập nghiệp. Tại đây cho đến ngày nay ( tháng 8 năm 2009 – thế kỷ 21) con cháu hậu duệ đã là đời thứ 14,15,16,17, 18.

Tổ tiên họ Ninh để lại cho con cháu một gia phả dòng tộc quý giá. Con cháu họ Ninh có nhiều công lao đóng góp cho tổ quốc.

Nhà thờ cụ Ninh Tốn ở Côi Trì được nhà nước cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá. Nhiều danh nhân Họ Ninh như: Ninh Đạt,  Ninh Ngạn, Ninh Địch, Ninh Tốn… Ba người đỗ tiến sỹ được khắc bia ở Văn miếu quốc tử giám Hà Nội: Ninh Đạt, Ninh Địch, Ninh Tốn.

Gia phả họ Ninh được dịch từ bản gốc và các tư liệu lịch sử các văn bia ở Văn Miếu Quốc Tử Giám – Hà Nội, các văn bia tại nhà thờ đại tôn Côi Trì, Nhà thờ cụ Ninh Tốn, Văn bia đình làng Trung Đồng, các sắc phong của triều đại phong kiến Việt Nam, gia phả dòng họ Ninh Xuân thôn Ninh Xá Hạ xã yên Ninh – Ý Yên – Nam Định, Gia phả họ Ninh do cụ Ninh Ái Liên biên soạn bằng chữ hán. Cụ Ninh Liêm phục lục biên và bổ sung năm 1987.

Với sự hợp tác chặt chẽ và tinh thần trách nhiệm cao của các gia đình, các chi, ngành, con cháu họ Ninh tại Trung Đồng. Tổ biên soạn gia phả Họ Ninh làng Trung Đồng  bản thảo từ năm 1990).

Họ Ninh có truyền thống ngàn đời yêu nước, đoàn kết, lao động và hiếu học, thành đạt làm rạng rỡ tổ tông.

Con cháu họ Ninh Kính trình tổ tiên!



Ninh thị phả tựa

Nhân sinh tối trọng giả luân ly, luân lý chi đệ nhất yếu nghĩa, mạc như gia phả yên, phả ư gia do sử ư quốc, hữu quốc tất hữu sử, hữu gia tất hữu phả, phả dĩ lục thế tiên hậu sử, sử dĩ kỷ cương thời đại thịnh suy.

Cổ kim lai hữu quốc gia giã bất khả thị phi khuyết điểm, nhi ngộ nhân ư luân lý chung, vưu bất khả dĩ tầm thường thị giã.

Ngã Ninh phả chi xuất ư giã quốc cổ hỷ Hùng Vương thời thuỷ ư.

Tể tướng đạt khong công kỳ tỵ tổ huỷ thếđại thiên cách, tỷ chi sơn khảo nga nam ấp Ninh Xá hỹ.

 Thuỷ tổ Doãn Chung công đường Lê Hồng Đức gian, gia kỳ tựa ư côi Trì kim kinh thập hữu thế kỷ thị chi châu ly chung tha tộc phả vô tòng khảo chung.

 Ngã Ninh phả phi cổ nhi hà tiên giới ngã.

Tổ sư cố Lê Tấn Sỹ chi chí Ninh tướng công khảo kỳ thế ký kỳ sự từ giản nhi văn, ngữ minh nhi thôi, sự hậu nhân vô ngư vong tổ chi chiêu – Tướng công kỳ hữu công ư ngộ tộc đại hỷ, công sứng ư tiền, hậu chi nhân dương kế nhi chuyền, tắc vạn thế phả hỹ ư thị xuất tô du hành tục sở vị lục, biên sở vị biên, công chi hậu nguyên nguyên phái pháI dỹ bất vu kim, nhất y công chi bút pháp nhi bị thủ chi, cái diệc dỹ kế công, tác phả chi di y vân nhĩ, do thử quan chi ngô Ninh thế đại kỳ lai viễn hy. Bất hữu tiên giác, thục khai ngã nhân suy nhi cầu chi. Ngã gia phả dương phân vi nhị thời kỳ khán.

Ninh Xá dĩ tiên văn hiến bất đắc chưng đắc chí chuyền văn, nãI nghi phả  chi thời kỹ dã.

Côi Trì chi hậu, khoa hạn tương truyền biên, kiến chi thực lục thị tín phả chi thời kỳ dã.

Do chi hồ ngã quốc sử sứ quân dỹ tiến, Đinh hoàng nhị hậu tái sử dã diệc phân tác nghi tín nhị thời kỳ khán gia quốc nhược hữu tương quan hĩ phù.

Tuy nhiên phả hữu nghi tín nhị thời kỳ nhi khảo tín phả gia.

Thế lịch thập tam niên kỷ tứ bách do đắc công nhận,

Tổ tôn đề tạo chi nhâm thân, nguyên bản chi phái chi sở tự, dỹ tồn luân lý đệ nhất yếu nghĩa ư ngô quốc trung thực ngã.

 Tổ sư hy chí công, hữu dỹ khải chi dã ư hí quân tử chi đạo, khảo chí bất mậu, kiền chi bất bội, tương dĩ đôn điển nhi tự luân tôn miếu chí lễ, ái kỳ sở thân, kính kỹ sở tôn, ư dĩ báo công nhi sùng đức.

Liên tiến bất tư lượng, phụng tục thế phả, nghĩ đốc kinh thiên kê nhã liệt thạch cực chi lậu vong, thù dụng phủ nhiên, cẩn cẩn phụ phiến ngân ư tập đoạn, liểu ký nhất thời tôi lệ.Thời thất Hoàng đế Bảo Đại nhâm thân chi thất hà nguyệt viễn tôn xuân giang huy chu Ninh Ái Liên huân hưu bái thủ thư.



Ninh thị thế phả

 Tứ mậu tuất khoa tấn sỹ đông các đại học sỹ mẫn hiên hi chí Ninh tướng công khảo lục.

Viên tôn thành ấp hi chu

Ninh Ái Liên phục lục biên.

Thuỷ tổ dẫn

 Yến trình tử viết thử quyết sơ sinh dẫn chi tổ Ninh tộc diện cư tư ấp thuỷ du tử tôn thực tự.

Doãn Chung công tự thử dĩ tiền tắc bất khả khả khảo cố dĩ công vi thuỷ tổ.

1-Thuỷ tổ Doãn Chung tính Ninh thị Nam Định, Vọng doanh Ninh Xá nhân.

Lê Hồng Đức nguyên niên ngoại gia kỳ địa hiệu côi đàm xã, Kim cải Côi Trì, nay là Yên Mỹ xã, tốt tự an tâm phủ quân mỗ Ninh Xá xã tỷ hiệu tử an nhụ nhâm mộ sách vận xứ, hữu nhị tử trưởng Doãn Chinh, thứ Ninh đạo chiếm xạ thời đại dữ công đồng bản, ông đạo tảo tốt hiệu mãnh hiên mộ dường vực xứ.

 Tiên tổ dẫn

           Yên lệ xưng hoặc dĩ thuỷ thiên chi tổ, hoặc dĩ khởi gia chi tổ tại cao tổ dĩ tiến nhất nhân vi tiên tổ.

Doãn Chinh công dữ phụ đồng thiên cư tư ấp thả tộc nội các chi đồng xuất ư công. tự thử dĩ hậu tắc  các hữu phân phái cố dĩ công vi tiên tổ.

2-Tiên tổ Doãn Chinh công cùng với thân phụ vào chiếm xạ đất hoang Yên Mô, cụ mất tên tự là Ngô Phúc phủ quân (mộ ao lăng xứ) bà hiệu từ Hảo nhu nhân (mộ quan đệ xứ) sinh hai trai,  trưởng Ngộ Đức,  thứ Ngộ Thái.

3- Cụ Ngộ Đức là con trưởng cụ Doãn Chinh sinh Ngộ Nhân.

4- Ngộ Nhân và bà hiệu Từ Nhân sinh ông Uy Dũng.

5- Ông Uy Dũng và bà Nguyễn Thị Thuận sinh ông Đô Tài

6- Ông Đô Tài tự Trần Cảnh, bà Phạm thị Huệ bà thứ Ngô Thị hiệu Từ An hai bà sinh hai trai: Trưởng Chân Nho, thứ Chân Tường (ông Chân Tường không biết ở đâu, khả năng ở Nam Định tỉnh).

7- Cụ Chân Nho huý Lễ, bà hiệu Từ Hiền sinh 3 trai: trưởng Văn Lộc, thứ Văn Nhân, Công Tài ( Văn Lộc không biét ở đâu).

8- Cụ Văn Nhân tự Pháp Tài, bà hiệu Từ Đức sinh 1 trai: Văn Vệ.

9- Văn Vệ sinh Văn miêu, Văn Duệ.

10- Văn Duệ sinh Văn Tráng.

8- Văn Tài tự Phúc Vinh bà Phạm Thị hiệu Từ Thuận sinh 2 trai trưởng Văn Tiếp thứ Văn Tuỳ.

9- Văn Tiếp sinh 2 trai: trưởng Văn Dục, thứ Văn Da.

10- Văn Da sinh Văn tượng.

9- Văn tuỳ sinh Văn Lâu, Văn Cầu.

3- Cụ Ngộ Thái huý là Khuê là con thứ cụ Doãn Chinh ngày 1 tháng giêng mất tự Ngộ Thái phủ quân (mộ quan đệ xứ) bà hiệu Từ Ân nhu nhân ngày 2 tháng 11 mất (mộ đồng mo xứ) sinh trai là Quang Thuỵ.

4- Ngộ Thiện huý khâm tự Quang Thuỵ  ngày 13 tháng 12 mất hiệu Ngộ Thiện phủ quân (mộ gò giầy xứ) bà Nguyễn Thị (huý Nhiên) mất ngày 11 tháng 8 hiệu Từ Nhân (mộ quan đệ xứ) sinh trai là Rụ Tuấn.

5- Chính chung công huý lộc tự Rụ Tuấn. Trong họ từ cụ thuỷ tổ trở xuống 4 đời đều làm nông nghiệp đến đời cụ mới làm xã trưởng, mất ngày 27 tháng 12 hiệu Chính Chung phủ quân, bà lê Thị Huy Dĩnh mất ngày 2 tháng 11 hiệu Từ Minh (hai mộ hợp táng ở gò giầy xứ) trong mộ phát phúc ở 2 mộ ấy. Sinh 3 trai: Trưởng là Công Phúc thứ là Việt Vệ, Việt Quý (Tạo Đức phạt tự).

 6- Công Phúc huý Bạt con trưởng cụ Chính Chung hiệu Huyền Thọ bà Nguyễn Thị Thuyết hiệu Từ  Chinh (2 mộ đều ở quan đệ xứ) sinh trai là: Cụ Công tự Phúc Thiện và cụ Tuyển.

6- Cụ Huyền Pháp con thứ cụ Chính Chung (ở lại Côi Trì Yên Mỹ ngày nay) huý khuyến tự Việt Vệ cụ chúng sinh đồ biêt làm thuốc, làm phong thuỷ, ngài thấy sứ gò giầy đội lên một huyệt bình dương rất làm kỳ dị bèn đưa hài cốt phụ mẫu cùng an táng một huyệt ở gò giầy trong họ phát phúc từ mộ này. Ngày 2 tháng 2 cụ mất thọ 72 tuổi tự là Huyền Pháp thuỵ lương trực (mộ ở Bạch Bát) bà Nguyễn Thị Cậy người Yên Mô ngày 27 tháng 6 mất, hiệu Từ ái (mộ ở nhân lý lân) sinh trai là Trương Yến, thứ cụ Hoằng Nghị.

 (7)- Cụ hiệu thái tổ Ninh Quý Công tự Phúc Thiện Lê triều sắc quốc gia ban thượng thượng anh linh thần vị 29 tháng 9 (là con trưởng cụ Huyền Thọ và  bà hiển thái tỷ tổ hiệu Từ Đan), là người đầu tiên đến khai hoang lập ấp  đặt tên làng Trung Đồng (Nay là Thôn Trung Đồng xã Yên Nhân – Yên Mô – Ninh Bình), sinh được 2 trai trưởng là Phúc Đạt, thứ Phúc Trực.

 8- Hiểu thái tổ hiểu chiêu mộ cao tổ khảo Cụ Ninh Quý Công  tự Phúc Đạt, sinh năm 1618. Cụ đỗ đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân năm Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ 2 đời vua Lê Thần Tông (1659). Cụ làm quan giám sát của một đạo hàng tùng tam phẩm. Cụ mất ngày 14 tháng 4 bà nhu nhân Nguyễn hiệuTừ Tín (Phương Nại). Không có con (phạt tự).

8- Hiểu thái tổ hiểu chiêu mộ  Cụ Ninh Quý Công tự Phúc Trực  phủ Ninh Bình Lê triều sắc quốc gia ban, thượng thượng anh linh thần vị ngày 3 tháng 12 bà  là Phạm hiệu Thị Thuỷ  mất ngày 4 tháng 5 ( 2 mộ ở Trung Đồng), sinh 3 trai trưởng là Cụ Xuân Thái thứ là Xuân  Kiên, Xuân Sớm.

 9-  Con cả cụ Phúc Trực: hiểu tằng tổ khảo lê triều mông sắc huyện thừa:  Ninh  Công huý Thịnh tự Xuân Thái,  dật trung thần mất ngày 18 tháng 3 bà hiệu là Diệu Chính nhu nhân mất ngày 20 tháng 5. (Sang lập tự cho cụ Phúc Đạt). Có con trai: Trưởng là Phú thứ là Thiêm.

 9- Con thứ  hai: Cụ Ninh Quý Công (Cai Kiên) thập lý hầu lân giáp trùm trưởng thượng thư huý là Kiên tự Phúc Thuận làm chức phủ quân mất ngày 17 tháng 1 hiền thê là hiểu tằng tổ tỷ dương lệnh thị huý Hối Hiệu tự Lân nhu nhân mất ngày 3 tháng 5 sinh 3 trai trưởng là Ninh Giáp thứ là Ninh Lềnh, Ninh Đường. (Mộ ở Trung Đồng)

 9- Con thứ ba: Cụ Ninh Công huý là Xuân Sớm tự Phúc Thuật, hậu thần phủ quân mất ngày 27 tháng 9. Ông là người sáng suốt xây dựng đình chùa làng đầu tiên. Bà là hiểu tằng bá tổ tỷ đinh lệnh  thị Huý Hà hiệu Từ Khoan mất ngày 22 tháng 2 (không có con). (Mộ ở Trung Đồng).

Đang Update...

0 nhận xét:

Đăng nhận xét