Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Gia Phả Họ Ninh Tại Côi Trì Yên Mỹ

GIA PHẢ HỌ NINH

LÀNG CÔI TRÌ – XÃ YÊN MỸ – HUYỆN YÊN MÔ – NINH BÌNH

- Thuỷ tổ họ Ninh : cụ tự  là Phúc –Lâm   thôn Ninh xá Hạ , xã Yên Ninh, Ý yên, Nam Định. Cụ mất ngày 16 tháng 3. Thời Lê Hồng Đức tại Ninh Xá có 8 ngành, 7 ngành hiện sinh sống tại Ninh xá Hạ (Nam Định ). Dòng họ Ninh tại  hiện nay con, cháu đang sinh sống trên nhiều miền của đất nước, đã có những  đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc việt nam yêu dấu. Thời phong kiến chúng ta tự hào vì đã có những Danh nhân như: Ninh Địch, Ninh Ngạn, Ninh Tốn … Trong  đấu tranh giành độc lập dân tộc và hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ  quốc đã có hàng trăm Liệt sỹ  hy sinh vì sự nghiệp tồn vong của Đất nước ,thì ngày nay chúng ta có Giáo sư  Ninh Viết Giao , huấn luyện viên Ninh Xuân  Bảo và hàng ngàn Thạc sỹ, Kỹ Sư, Cử nhân, Giáo viên cũng như các Sỹ quan QĐND, CAND… đang ngày đêm lao động, công tác, cống hiến cho đất nước, quê hương .
Gia Phả Họ Ninh Tại Làng Côi Trì


    - Một trong tám ngành đó : Ngành thứ 8 : Cụ Doãn Chung, thời Lê hồng Đức về khai hoang lập ấp tại làng Côi Trì xã Yên mỹ huyện Yên mô Ninh Bình (nay là xã Yên Mỹ huyện Yên mô, Ninh Bình) . Từ cuốn gia phả gốc của dòng họ tại Ninh  bằng chữ Hán  do cụ Ninh Ái Liên biên soạn. Năm 2000 (Canh Thìn ), Ông Ninh Gián được họ tộc giao cho ông bổ sung Gia phả. Do con cháu của dòng họ sinh sống rải rác trên nhiều miền của đất nước vì vậy hiện nay tài liệu về dòng họ vẫn chưa được thu thập đầy đủ, nhiều ngành, nhiều đời còn thiếu , chúng tôi mong rằng Gia phả của dòng họ được tiếp tục bổ sung để cho các đời con, cháu sau này có cơ sở  hiểu biết đầy đủ về Gia tộc mình .

Dưói đây là Gia phả Dòng Họ Ninh tại Yên Mỹ – Yên Mô – Ninh Bình

1- Thuỷ tổ Cụ Doãn Chung sinh được hai người con: Cụ Doãn Chinh, cụ Ninh Đạo (phạt tự ).

2- Cụ Doãn Chinh sinh hai trai trưởng Ngộ Đức, thứ Ngộ Thái .

3- Cụ Ngộ Đức sinh cụ Ngộ Nhân  .

4- Cụ Ngộ Nhân sinh ông Uy Dũng

5- Ông Uy Dũng và bà Nguyễn thị Thuận sinh ông Đô Tài .

6- Ông Đô Tài tự Trần Cảnh bà cả Phạm thị Huệ , bà thứ Ngô thị  hiệu Từ an. Ông Đô Tài có hai con trai : Trưởng Chân Nho, thứ Chân Tường (Hiện nay chưa biết ông Chân Tường ở đâu ?)

7- Cụ Chân Nho huý là Lễ, bà hiệu là Từ Hiền sinh 3 trai: trưởng Văn Lộc, thứ Văn Nhân, công  Tài (ông Văn Lộc hiên chưa biết ở đâu ?)

8- Ông Văn Nhân (Khâm) tự Pháp Tài , bà hiệu là Từ Đức sinh 1 trai là Văn Vệ

9- Văn Vệ sinh Văn Miêu và Văn Duệ .

10- Văn Duệ sinh Văn Tráng .

8- Công Tài tự Phúc Vinh bà hiệu Từ Thuận sinh hai trai truởng Văn Tiếp, thứ Văn Tuỳ.

9- Văn Tiếp sinh Văn Dục, Văn Da .

10- Văn Da sinh Văn Tượng (Chúng)

9- Văn Tuỳ sinh Văn Lâu, Văn Cầu .

3- Cụ Ngộ Thái huý là Khuê, tự Ngộ Thái phủ quân (con thứ cụ Doãn Chung) mất ngày 1 tháng giêng (mộ quan đê xứ ) bà hiệu An phu nhân, mất ngày 2 tháng 11 sinh trai Quang Thuỵ .

4- Cụ Ngộ Thiện huý Khâm tự là Quang Thuỵ hiệu là Ngộ thiện phủ quân mất ngày 13 tháng 12 sinh trai là Rụ Tuấn .

5- Chinh Chung công huý là Lộc tự là Rụ Tuấn. Trong họ các đời trước đều làm nông nghiệp  đến đòi cụ mới làm Xã trưởng, mất ngày 27 tháng 12 hiệu Chinh Chung phủ quân , bà là Lê Thị huý là Dĩnh mất ngày 2 tháng 11 hiệu Từ Minh  (sau này Huyền Pháp con thứ cụ Chinh Chung đã hợp táng mộ cha, mẹ mình tại Gò Giầy) . Sinh 3 trai : trưởng là Công Phúc (Phú), thứ là Việt Vệ, Quý .

6- Con trưởng cụ Chinh Chung: Cụ Công Phúc huý là Bạt hiệu là Huyền Thọ và bà Nguyễn Thị Thuyết hiệu là Từ Chinh sinh 2 trai là: Phúc  Thiện và  cụ  Tuyển.

7- Ông Tuyển chúng sinh đồ ngày 6 tháng 6 mất, sinh 2 trai trưởng là Tích thứ là Thuật.

8- Ông Tích chúng sinh đồ ngày 10 tháng 3 mất tự nhân tâm thọ 44 tuổi và bà Vũ Thị Tính ngày 10 tháng 5 mất sinh 4 trai (Trưởng là Tuấn-phạt tự) thứ là Xiêm, Toại, Tuân.

9- Ông Xiêm chúng sinh đồ làm xã chính bà nguyễn Thị An mất ngày 9 tháng 9 mất, sinh 3 trai trưởng là: Lai thứ là Nhỡi, Kệ.

10- Ông Lai sinh ông Hội ông Biên.

10- Ông Nhỡi sinh ông Số, ông Hào

9- Ông Toại làm chánh đội trưởng sinh ông Thuý

10- Ông Thuý sinh ông Cáo.

9- Ông Tuân sinh ông Phàn ông Lân

10- Ông Phàn sinh Văn Chí

8- Ông Thuật con thứ cụ Tuyển chúng sinh đồ tự Huệ Đạo sinh pông Văn Đệ.

9- Ông Văn Đệ sinh 5 trai trưởng là Tân, thứ Nghinh, Nguyên, Phong, Bảo.

10- Ông Tân sinh ông Văn Thịnh (ông Tân Nghinh đều chúng sinh đồ)

 6- Cụ Huyền Pháp Con thứ cụ Chinh Chung huý là Khuyến, tự là Việt Vệ  cụ chúng sinh đồ, biết làm thuốc, biết phong thuỷ, ngài  thấy ở Gò Giầy có một huyệt bình dương rất kỳ dị, bèn đưa hài cốt phụ, mẫu của mình về hợp táng tại đây, trong họ phát phúc từ mộ này. Cụ mất ngày 2 tháng 2 thọ 72 tuổi tự là Huyền Pháp thuỵ Lương Trực (mộ ở núi Bạch Bát ), cụ bà Nguyễn Thị Cậy người  làng Yên Mô mất ngày 27 tháng 6 hiệu là Từ Ái (mộ ở Nhân lý lân ) sinh 2 trai trưởng là Yến, thứ Hoằng Nghị .

7- Cụ Yến sinh cụ Quy, cụ Nghĩa (đều phạt tự ), các cụ đều nhập từ đường họ Ninh

7- Cụ Hoằng Nghị huý là Lệnh tự là Hoằng Nghị tiên sinh, đỗ hương cống (tương đương với cử nhân ) năm Quý Mùi, cụ chủ tâm học nghề địa lý bèn dời mộ cụ Huyền Pháp an táng tại núi Bạch Bát và di chúc cho con cháu đời sau không được di chuyển mộ. Cụ nhận chức tri huyện Quảng Bình. Con trưởng  là  cụ Sắc đỗ Hoàng Giáp lịch thăng tứ phẩm chức ấm phong đông các học sỹ, làm hậu thần bản xã. Cụ sinh năm Cảnh trị Tam niên giờ sửu ngày 13 tháng 12 Ất Tỵ, mất ngày 4 tháng giêng thọ 81 tuổi tự là Đoan Nghị thuỵ là Cảnh trực mộ sứ Gò Giầy

- Bà chính thất Thiệu thị huý Thám người huyện Thanh Liêm , xã Kiên Sinh, bà sinh năm Thịnh đức tam niên, mất năm Chính hoà thứ 24, ngày 22 tháng 7 hiệu từ huệ ấm phong nghi nhân thọ 47 tuổi. Bà kế người cùng xã họ Lê Huý Duyên sinh năm Chính Hoà thứ 10 mất năm Cảnh Hưng thứ 17 ngày 25 tháng 11 hiệu Từ Chính Nghi Nhân thọ 68 tuổi (mộ ở xứ Cổ Lăng Bằng Hào) cụ sinh được 6 trai và 2 gái: Trưởng là cụ  Hoàng Giáp, thứ là cụ  Thanh Chương với 1 bà con gái là bà Cả Sinh (con gái lấy ông Nguyễn Chuẩn người Cù Khê).

- Bà kế sinh Cụ Nhã Thực, cụ Thị Độc, Cụ Chỉ Huy, Cụ Tuy Hiệu và 1 gái lấy ông Trịnh Bách người Yên liêu, Đinh phù, Bà hiệu là Từ Thục không có con nên thờ tại từ đường chi đệ nhị .

 8- Cụ Hoàng Giáp huý là Sắc tự là Địch (Tiến sỹ Ninh Địch)  là con cả cụ Hoằng Nghị đỗ Tiến sỹ khoa Mậu Tuất năm Lê Vĩnh Thịnh thứ 14  (đỗ Hương cống năm 19 tuổi, đỗ Hoàng Giáp năm 32 tuổi ), làm quan đến Đông các đại học sỹ, cụ sinh năm Chính hoà thứ 8 (ngày 4 tháng 2 Canh Thân), mất năm Long đức thứ 3 ngày 18 tháng 4 tên tự Ngọc Đường thuỵ thông mẫn thọ 48 tuổi mộ ở bản xã, được truy phong Hậu thần, bà chính thất  người họ Lê ở Nuốn Khê, bà thứ là phu nhân Trương Thị Hiệu từ ý người ở sở thiên kiện con gái cụ Trương Thượng thư ( thày học của Ninh Địch) sinh được 2 trai trưởng là ông Giáp, bà kế sinh thứ  ông Sưởng bà Trương Thị Sinh.

9- Ông Giáp chúng sinh đồ, ông mất năm 25 tuổi tự là Pháp tín,  thuỵ là Thông lãng. Ông sinh được 1 gái (mộ ở Từ Vũ)

9- Ông Sưởng đỗ Cử nhân, ông mất năm 25 tuổi tự là Tỷ luyện, thuỵ là Cảnh chính . Ông sinh được 1 gái .

( Như vây trong số sáu người con  trai của cụ Hoằng Nghị: Cụ Hoàng Giáp, cụ Chùm Hậu (Nhã Thực )  đều phạt tự vì vậy hiện nay dòng họ Ninh tại Côi trì từ đời thứ tám trở đi được chia thành 4 chi  )

0 nhận xét:

Đăng nhận xét