Nhà Thờ Họ Ninh Tại Yên Mỹ - Yên Mô - Ninh Bình

Gia phả họ Ninh tại làng Côi Trì xã Yên Mỹ huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình

Nhà Thờ Họ Ninh Tại Trang Kỳ

Dòng họ Ninh Tại thôn Tràng Kỷ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

Nhà Thờ Họ Ninh Xá

GIA phả họ Ninh Thôn Ninh Xá, xã Lên Ninh, huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dương

Nhà Thờ Họ Ninh Tại Song Khuê

Dòng họ Ninh Tại xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

Tiểu Sử Về Cụ Ninh Địch

Họ Ninh  theo tổ tiên truyền lại vốn quê ở Ninh Xá huyện Vọng Doanh ( nay là huyện Ý Yên tỉnh Nam Định) vào niên hiệu Hồng Đức thời vua Lê Thánh Tông, ông tổ 8 đời đến huyện Yên Mô – Ninh Bình sinh sống, cùng nhau khai hoang lập ấp trở thành một xã, xin được đặt tên là Khôi Đàm sau này vì kiêng húy ( có lẽ là tránh tên Duy Đàm của Lê Thái Tông năm 1573- 1600) Khôi Đàm được đổi là Khôi Trì.

Cha của Ninh Địch từng thi đỗ hương cống, sau này làm tới quan tri huyện ở Quảng Bình, mẹ của Ninh Địch là người họ Thiệu quê ở Thanh Liêm ( Hà Nam ) Ninh Địch được sinh vào năm 1687 tỏ ra được tiên thiên chúng đức vẹn toàn, khí mạo vững vàng, dáng vẻ tuấn tú. Tuổi ngày một lớn trí thông minh ngày một mẫn tiệp. Hồi còn nhỏ Ninh Địch đi thơ thẩn trên đường gặp đúng quan huấn đạo. Vị quan trông cậu bé lanh lợi, thấy làm vui thích bèn ra đối rằng ” Xuân đáo bách hoa khai” ( nghĩa là xuân tới trăm hoa khoe). Ninh Địch đáp luôn ” nhật xuất thiên sơn chiếu” ( nghĩa là nắng rạng ngàn núi tỏa). Dù có đôi chút sai liêm luật nhưng vế đối lại tràn ngập tương lai rạng rỡ. Quan huấn đạo kinh ngạc khen rằng ” bé mà thông minh thế này, ngày sau sự nghiệp ắt là lớn lao làm vẻ vang cho nghiệp học nước nhà” rồi tặng quà cho chú bé.
Hơn 10 tuổi sức học của Ninh Địch đã sâu rộng, ý tứ dồi dào. Năm 14 tuổi (1700) Ninh Địch theo học quan thượng thư bộ hình, thiếu bảo lỵ quận công là Trương Công Khải ở Thanh Liêm Hà Nam đây cũng là quê mẹ đẻ của Ninh Địch, trong các kỳ khảo hạch địa phương, vị quan chấm bài rất sát sao, Ninh Địch vẫn thường xếp hàng đầu.
Năm 17 tuổi Ninh Địch cắp sách nhập trường tiến sỹ Nguyễn Hữu Đăng quê làng Đông Tác huyện Thọ Xương – Hà Nội, vị tướng sỹ này rất nghiêm khắc trong đào luyện học trò, các kỳ tập văn ở trường trang trọng như kỳ thi chính, rồi Ninh Địch lại theo học trường báo thiên của thám hoa Vũ Thạch năm 19 tuổi( 1705) Ninh Địch theo cha dự thi hương Ninh Địch đỗ hàng thứ 4.
Năm 24 tuổi triều đình lệnh cho bộ lại mở kỳ khảo duyệt, Ninh Địch quyết trí tỏ rõ bút lực quan chấm thi là Nguyễn Công Hãng (tiến sỹ năm 1700) kinh ngạc đây là văn của tiến sỹ còn gì ! Quan chủ ty là Nguyễn Qúy Đức(tiến sỹ năm 1676) giật mình: đáng tiến sỹ thật nhưng danh sách cập đệ vốn đã định rồi, thông tin ấy không được truyền rộng ra nhưng bào văn ấy của Ninh Địch được xếp hạng ưu, đứng đầu sau đó Ninh Địch nhận chức huấn đạo phủ Nghĩa Hưng ( nay thuộc Nam Định). Năm 32 tuổi cha con Ninh Địch hưởng ứng chiếu cầu hiền của chua An Đô Vương Trịnh Cương về kinh đô Tràng An dự thi hội, ba trường thi trôi qua 2 anh em Ninh Địch, Ninh Ngạn hợp cách vào trường thứ 4, bài thi của  Ninh Địch được các quan khen ngợi đánh giá cao, khoa thi hội này Ninh Địch đậu thứ 4 trong số 17 người trúng cách, cháu Trịnh Cương cầm tay Ninh Địch đích thân tuyên bố giữa triều đình ” ta có Mã Chu ( một danh tướng kỳ tài được Đường THái Tông 4 lần sai sứ giả đi mời về triều ) kề cận đây rồi, khỏi nhọc sức sứ giả đi mời nữa”.
Năm 1718 ngày 25 Âm lịch triều đình mở kỳ thi điện, đề ra thánh nhân trị thiên hạ quy định 64 câu khao này Vũ Công Tế quê ở xã Hải Bối – Gia Lâm- Hà Nội đỗ thám hoa, Nguyễn Toàn quê ở Lỗ Bạt Thường Tín – Hà Tây và Ninh Địch đậu Hoàng Giap. Từ đây đường quan mở lối, Ninh Địch trải qua các chức: Hiệu Lý viện Hàn Lâm, đốc đống trấn Hải Dương tại Hải Dương, trong vòng 2 năm Ninh Địch đã dẹp yên được các đảng gian các nhóm trộm cướp sử lý thỏa đáng các vụ kiện cáo, dân trong vùng thành tâm tín phục, bạn đồng niêu thực dạ mến yêu, vì lập được chiến tích lớn này nên ông được thăng đãi chế viện Hàn Lâm và vẫn giữ đốc đồng Hải Dương như ý nguyện của dân lành.
Tuy bận rộn việc quan nhưng Ninh Địch ko lơi là tâm nguyện của người con, cháu hiếu hiển đối với tổ tông, làng xóm, ông đứng ra việc dựng từ đường của dòng họ Ninh, xây miếu, đình của xã nhà( Côi Trì) xây đền thờ tiên hiền của huyện Yên Mô. Vào tuổi 40 (1726) Ninh Địch lại nhận chức phúc khảo các bài thi hương trong địa phương mình. Việc này chẳng khác gì một thử thách về nhân phẩm, không một ai ko ca tụng, Ninh Địch xét bào công bằng, kết quả phần lớn kẻ sỹ do ông tiến cử đều trúng cách.
Năm 1734 vào ngày 18/4 âm lịch, Ninh Địch qua đời giữa mùa hè oi nồng, triều đình truy tặng Hàn Lâm viện thừa chỉ. Ninh Địch tạ thế giữa độ đang sung sức, để lại vị trí bỏ trống trong văn đàn đương thời, gây nên nỗi thương tâm lâu dài hco anh em họ tộc. Em trai ông là Ninh Ngạn hiệu Dã Hiên là qua tới chức Hiến Phó sứ là cha của Ninh Tốn, khi viết về cuộc đời anh mình vẫn còn ngập tràn nuối tiếc, cũng như sự nuối tiếc của học giả các đời sau, chỉ được viết văn tài của ông qua tên một số tác phẩm như bài Phú nghiêu cứ hỏa đức, quân thần nghĩa…
Cuộc đời của Ninh Địch người con của Ninh Bình có thể còn nhiều điều chưa được làm sáng tỏ, văn nghiệp của ông có thể còn nằm sâu đâu đó giữa lớp bụi thời gian. Nhưng chí khí của Ninh Địch thì chưa bao giờ mòn mỏi ông thường nói ” việc học của người quân tử, đã không thì thôi đã làm ắt sẽ thành”.

Nguồn: Tàng Thư Viện VN

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Tiểu Sử Về Cụ Tổ Ninh Tốn

Cụ Tổ Ninh Tốn (chữ Hán: 寧遜, 1744-1795), tự Khiêm Như sau đổi là Hi Chí, hiệu Mẫn Hiên, Chuyết Sơn cư sĩ, Song An cư sĩ; là nhà thơ, nhà sử học, và là đại thần thời Lê trung hưng và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.


Thân Thế Và Sự Nghiệp

Ông là người Côi Trì, nay thuộc xã Yên Mỹ huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Theo bia "Côi Trì bi ký" do Ninh Tốn soạn năm 1769, thì tổ tiên ông trước ở Ninh Xá, huyện Chí Linh (Hải Dương). Tuy nhiên, Bia "Dã Hiên Tiên Sinh Mộ Biểu", sách Ninh Tướng Công Hành Trạng và Gia phả họ Ninh tại Côi Trì viết tổ tiên ông là Ninh công tự Doãn Chung từ thôn Ninh Xá huyện Vọng Doanh (nay thuộc xã Yên Ninh huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) tới "chiếm xạ"  tại Côi Trì vào khoảng năm Hồng Đức triều Hậu Lê khai khẩn đất rồi định cư luôn ở đó.

Cha Ninh TốnNinh Ngạn (hiệu Dã Hiên, Hy Tăng), một ẩn sĩ, là tác giả của hai tập sách: Vũ Vu thiển thuyết (Lời bàn nông cạn về thú ở ẩn) và Phong vinh tập (Tập thơ văn Vịnh gió). Bác của Ninh TốnNinh Địch, đỗ Hoàng giáp khoa Mậu Tuất (1718) đời Lê Dụ Tông.


Từ nhỏ, Ninh Tốn đã nổi tiếng là thông minh, được cha cho trọ học ở kinh đô Thăng Long. Năm 1762, ông đỗ Hương cống (tức Cử nhân). Sau đó, ông tiếp tục theo học với Tiến sĩ Vũ Huy Đĩnh. Ở đây ông kết thân với hai bạn học là Phạm Nguyễn Du và Vũ Huy Tấn.

Làm quan thời Lê Trịnh (1770-1787)

Năm Canh Dần (1770), lúc 27 tuổi, Ninh Tốn có đến chơi rồi đề thơ ở núi Vân Lỗi (thuộc Thanh Hóa). Một hôm, chúa Trịnh Sâm đi xem xét phong tục, ngự chơi núi ấy, thấy bài thơ trên, liền mến tài thơ mà triệu ông vào giữ chức Thiêm tri binh phiên.

Năm Ất Mùi (1775), ông vâng lệnh vào triều nhận chức Hiệu thảo thự Sơn Nam hiến sứ. Theo Việt sử thông giám cương mục thì năm này, ông cùng với Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Nguyễn Sá lo việc biên soạn Quốc sử.

Năm 1776, ông có tờ khải về các tệ nạn ở vùng ven biển ven sông, cùng nạn các lại dịch lấy cớ vì việc công để thu lúa, thu thủy sản, làm cho dân khổ. Nhờ vậy, nên có lệnh cấm nghiêm.

Năm Đinh Dậu (1777), ông làm Nhập thiêm sai công phiên, nhiều lần được theo xa giá đi công cán. Trong những chuyến đi ấy, ông đã sáng nhiều thơ, sau gom lại thành tập "Tây hộ mạn hứng" (Những cảm hứng tản mạn trên đường hộ giá phía Tây), được Ngô Thì Nhậm, Phạm Nguyễn Du đánh giá cao.

Năm Mậu Tuất (1778), ông đỗ Hội nguyên tiến sĩ năm 35 tuổi, được cử làm Phụng tá quân hải lộ.

Năm 1779, ông được thăng tứ phẩm. Cha ông là Hy Tăng được phong Hàn lâm viện thị độc, mẹ là Lê Thị Liệu được tặng Nghi nhân.

Năm Canh Sửu (1781), lúc ông 38 tuổi, được giữ chức Thiêm sai tri binh phiên, làm ở Viện cơ mật kiêm Quốc sử quốc luật toản tu, Đông các đại học sĩ, Thự Hình bộ hữu thị lang. Nhân lúc mang cáo sắc phong trở về làng, ông đi chơi núi Chuyết Sơn và làm tập Chuyết Sơn thi tự.

Năm 1786, ông làm Hiệp trấn ở Động Hải (thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình). Khi quân Tây Sơn đoạt thành Phú Xuân (1786), tiến đánh ra các đồn Cát Thanh, Động Hải thì ông bỏ đồn mà chạy . Nhưng sau đó vẫn được giao chức Tham tri chính sự kiêm Bồi tụng cùng với Ngô Trọng Khuê.


Năm 1787, quân Tây Sơn do Võ Văn Nhậm chỉ huy đánh ra Bắc diệt Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh tâu với vua Lê Chiêu Thống, cho Nguyễn Như Thái làm Thống lĩnh, Ninh Tốn làm Tham tán quân vụ, đem quân họp với quân của Lê Duật, chống lại. Vốn là người Côi Trì, am hiểu rõ vị trí chiến lược của Tam Điệp nên ông khuyên Nguyễn Như Thái nhanh chóng chiếm giữ để ngăn quân Tây Sơn. Nhưng mới tới Phủ Lý thì quân của Võ Văn Nhậm đã vượt qua Tam Điệp. Lê Duật bị Ngô Văn Sở giết chết ở Cao Lũng, Nguyễn Như Thái bị tên bắn chết sau khi thua trận ở sông Giản (thuộc Ninh Bình), còn Ninh Tốn nhờ trốn vào nhà dân được thoát nạn.
Làm quan thời Tây Sơn (1788-1790)

Năm 1788, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ ra Bắc Hà diệt Vũ Văn Nhậm, rồi cho sắp đặt lại quan chức. Ninh Tốn được phong chức Hàn lâm trực học sĩ, để cùng với Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Du, Phan Huy Ích giúp Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm, cai quản đất Bắc.

Có các nhận định khác nhau về việc Ninh Tốn ra phục vụ Tây Sơn. Các tác giả của sách Thơ văn Ninh Tốn cho rằng đó là sự thức thời, tuy nhiên sách Đại Nam Liệt Truyện viết "Ninh Tốn trước trốn tránh không chịu ra, Huệ bắt em là Hương Công lôi ra chém đi để cho Tốn sợ, sau Ninh Tốn mới ra".

Theo sử liệu  thì Ninh Tốn làm quan nhà Lê trải đến chức Hữu Thị lang, tước Trường nguyên bá. Khi nhà Lê mất, ông tiếp tục phục vụ nhà Tây Sơn, giữ chức Thượng thư Bộ Binh, tước hầu. Và nhờ năm Canh Tuất (1790), ông có đề tựa tập thơ Hoa trình học bộ tập của thầy học là Vũ Huy Đĩnh và đề tựa cuốn sách y học Thai sản điều lý phương pháp tự của bạn là Hoàng Phong Ôn Phủ (tức Nguyễn Thế Lịch), mà người đời sau biết được vào năm đó (47 tuổi) ông đã xin về nghỉ ở quê.

Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì Ninh Tốn mất năm 1790. Tuy nhiên, theo Gia phả họ Ninh, thì ông mất ngày 5 tháng 5 năm Ất Mão (1795).


Tác phẩm

Tác phẩm chính của Ninh Tốn là bộ Chuyết Sơn thi tập (Tập thơ Chuyết Sơn), trong đó bao gồm cả tập Tây hộ mạn hứng. Đây là bộ sách do con cháu ông sưu tập, hiện chỉ còn 275 bài thơ và 7 bài gồm văn sách, phú, tựa, văn bia...Tất cả đều bằng chữ Hán. Phần lớn, chúng được sáng tác dưới thời Lê-Trịnh. Còn những sáng tác dưới thời Tây Sơn, theo nhóm tác giả sách Thơ văn Ninh Tốn, thì chắc mất mát nhiều, vì con cháu không dám lưu giữ.

Hiện ở Thư viện Hán Nôm (Hà Nội) còn giữ được 3 tập của ông, đó là:

Chuyết Sơn thi tập, mang ký hiệu: A.1292.
Chuyêt Sơn thi tập đại toàn, mang ký hiệu: A.1407.
Tiền Lê tiến sĩ Ninh Tốn thi tập, mang ký hiệu: A.350.
Trong ba cuốn trên có nhiều bài trùng lập.


Năm 1984, một nhóm biên soạn (Hoàng Lê chủ biên) thuộc Viện Hán Nôm (Hà Nội) đã tuyển chọn ra 107 bài thơ và 1 bài tựa Hoa trình học bộ tự để in thành tác phẩm Thơ văn Ninh Tốn (Nxb KHXH, Hà Nội, 1984).

Ghi công
Cụ Ninh Tốn được thờ ở Nhà thờ Ninh Tốn, xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Đây là một di tích lịch sử quốc gia của Việt Nam. Tên của ông cũng được đặt cho những con đường ở trung tâm thành phố Ninh Bình, ở thị xã Tam Điệp tỉnh Ninh Bình, tại Thị trấn Củ Chi thành phố Hồ Chí Minh, tại thành phố Đà Nẵng.

Nguồn tham khảo:
Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí (2 tập). Nxb Văn học, 1984.
Phạm Đình Hổ, Vũ trung tùy bút. Nxb Trẻ & Hội nghiên cứu giảng dạy văn học TP. HCM hợp tác ấn hành, 1989.
Nhiều người soạn, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam (tập 3). Nxb Văn học, 1978.
Nhiều người soạn (Hoàng Lê chủ biên), Thơ văn Ninh Tốn. Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1984.
Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Bá Thế. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nxb KHXH, 1992.
Tạ Ngọc Liễn, Danh nhân văn hóa trong lịch sử Việt Nam. Nxb Thanh Niên, 2008.


Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Gia Phả Họ Ninh Tại Côi Trì Yên Mỹ

GIA PHẢ HỌ NINH

LÀNG CÔI TRÌ – XÃ YÊN MỸ – HUYỆN YÊN MÔ – NINH BÌNH

- Thuỷ tổ họ Ninh : cụ tự  là Phúc –Lâm   thôn Ninh xá Hạ , xã Yên Ninh, Ý yên, Nam Định. Cụ mất ngày 16 tháng 3. Thời Lê Hồng Đức tại Ninh Xá có 8 ngành, 7 ngành hiện sinh sống tại Ninh xá Hạ (Nam Định ). Dòng họ Ninh tại  hiện nay con, cháu đang sinh sống trên nhiều miền của đất nước, đã có những  đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và xây dựng Tổ quốc việt nam yêu dấu. Thời phong kiến chúng ta tự hào vì đã có những Danh nhân như: Ninh Địch, Ninh Ngạn, Ninh Tốn … Trong  đấu tranh giành độc lập dân tộc và hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ  quốc đã có hàng trăm Liệt sỹ  hy sinh vì sự nghiệp tồn vong của Đất nước ,thì ngày nay chúng ta có Giáo sư  Ninh Viết Giao , huấn luyện viên Ninh Xuân  Bảo và hàng ngàn Thạc sỹ, Kỹ Sư, Cử nhân, Giáo viên cũng như các Sỹ quan QĐND, CAND… đang ngày đêm lao động, công tác, cống hiến cho đất nước, quê hương .
Gia Phả Họ Ninh Tại Làng Côi Trì


    - Một trong tám ngành đó : Ngành thứ 8 : Cụ Doãn Chung, thời Lê hồng Đức về khai hoang lập ấp tại làng Côi Trì xã Yên mỹ huyện Yên mô Ninh Bình (nay là xã Yên Mỹ huyện Yên mô, Ninh Bình) . Từ cuốn gia phả gốc của dòng họ tại Ninh  bằng chữ Hán  do cụ Ninh Ái Liên biên soạn. Năm 2000 (Canh Thìn ), Ông Ninh Gián được họ tộc giao cho ông bổ sung Gia phả. Do con cháu của dòng họ sinh sống rải rác trên nhiều miền của đất nước vì vậy hiện nay tài liệu về dòng họ vẫn chưa được thu thập đầy đủ, nhiều ngành, nhiều đời còn thiếu , chúng tôi mong rằng Gia phả của dòng họ được tiếp tục bổ sung để cho các đời con, cháu sau này có cơ sở  hiểu biết đầy đủ về Gia tộc mình .

Dưói đây là Gia phả Dòng Họ Ninh tại Yên Mỹ – Yên Mô – Ninh Bình

1- Thuỷ tổ Cụ Doãn Chung sinh được hai người con: Cụ Doãn Chinh, cụ Ninh Đạo (phạt tự ).

2- Cụ Doãn Chinh sinh hai trai trưởng Ngộ Đức, thứ Ngộ Thái .

3- Cụ Ngộ Đức sinh cụ Ngộ Nhân  .

4- Cụ Ngộ Nhân sinh ông Uy Dũng

5- Ông Uy Dũng và bà Nguyễn thị Thuận sinh ông Đô Tài .

6- Ông Đô Tài tự Trần Cảnh bà cả Phạm thị Huệ , bà thứ Ngô thị  hiệu Từ an. Ông Đô Tài có hai con trai : Trưởng Chân Nho, thứ Chân Tường (Hiện nay chưa biết ông Chân Tường ở đâu ?)

7- Cụ Chân Nho huý là Lễ, bà hiệu là Từ Hiền sinh 3 trai: trưởng Văn Lộc, thứ Văn Nhân, công  Tài (ông Văn Lộc hiên chưa biết ở đâu ?)

8- Ông Văn Nhân (Khâm) tự Pháp Tài , bà hiệu là Từ Đức sinh 1 trai là Văn Vệ

9- Văn Vệ sinh Văn Miêu và Văn Duệ .

10- Văn Duệ sinh Văn Tráng .

8- Công Tài tự Phúc Vinh bà hiệu Từ Thuận sinh hai trai truởng Văn Tiếp, thứ Văn Tuỳ.

9- Văn Tiếp sinh Văn Dục, Văn Da .

10- Văn Da sinh Văn Tượng (Chúng)

9- Văn Tuỳ sinh Văn Lâu, Văn Cầu .

3- Cụ Ngộ Thái huý là Khuê, tự Ngộ Thái phủ quân (con thứ cụ Doãn Chung) mất ngày 1 tháng giêng (mộ quan đê xứ ) bà hiệu An phu nhân, mất ngày 2 tháng 11 sinh trai Quang Thuỵ .

4- Cụ Ngộ Thiện huý Khâm tự là Quang Thuỵ hiệu là Ngộ thiện phủ quân mất ngày 13 tháng 12 sinh trai là Rụ Tuấn .

5- Chinh Chung công huý là Lộc tự là Rụ Tuấn. Trong họ các đời trước đều làm nông nghiệp  đến đòi cụ mới làm Xã trưởng, mất ngày 27 tháng 12 hiệu Chinh Chung phủ quân , bà là Lê Thị huý là Dĩnh mất ngày 2 tháng 11 hiệu Từ Minh  (sau này Huyền Pháp con thứ cụ Chinh Chung đã hợp táng mộ cha, mẹ mình tại Gò Giầy) . Sinh 3 trai : trưởng là Công Phúc (Phú), thứ là Việt Vệ, Quý .

6- Con trưởng cụ Chinh Chung: Cụ Công Phúc huý là Bạt hiệu là Huyền Thọ và bà Nguyễn Thị Thuyết hiệu là Từ Chinh sinh 2 trai là: Phúc  Thiện và  cụ  Tuyển.

7- Ông Tuyển chúng sinh đồ ngày 6 tháng 6 mất, sinh 2 trai trưởng là Tích thứ là Thuật.

8- Ông Tích chúng sinh đồ ngày 10 tháng 3 mất tự nhân tâm thọ 44 tuổi và bà Vũ Thị Tính ngày 10 tháng 5 mất sinh 4 trai (Trưởng là Tuấn-phạt tự) thứ là Xiêm, Toại, Tuân.

9- Ông Xiêm chúng sinh đồ làm xã chính bà nguyễn Thị An mất ngày 9 tháng 9 mất, sinh 3 trai trưởng là: Lai thứ là Nhỡi, Kệ.

10- Ông Lai sinh ông Hội ông Biên.

10- Ông Nhỡi sinh ông Số, ông Hào

9- Ông Toại làm chánh đội trưởng sinh ông Thuý

10- Ông Thuý sinh ông Cáo.

9- Ông Tuân sinh ông Phàn ông Lân

10- Ông Phàn sinh Văn Chí

8- Ông Thuật con thứ cụ Tuyển chúng sinh đồ tự Huệ Đạo sinh pông Văn Đệ.

9- Ông Văn Đệ sinh 5 trai trưởng là Tân, thứ Nghinh, Nguyên, Phong, Bảo.

10- Ông Tân sinh ông Văn Thịnh (ông Tân Nghinh đều chúng sinh đồ)

 6- Cụ Huyền Pháp Con thứ cụ Chinh Chung huý là Khuyến, tự là Việt Vệ  cụ chúng sinh đồ, biết làm thuốc, biết phong thuỷ, ngài  thấy ở Gò Giầy có một huyệt bình dương rất kỳ dị, bèn đưa hài cốt phụ, mẫu của mình về hợp táng tại đây, trong họ phát phúc từ mộ này. Cụ mất ngày 2 tháng 2 thọ 72 tuổi tự là Huyền Pháp thuỵ Lương Trực (mộ ở núi Bạch Bát ), cụ bà Nguyễn Thị Cậy người  làng Yên Mô mất ngày 27 tháng 6 hiệu là Từ Ái (mộ ở Nhân lý lân ) sinh 2 trai trưởng là Yến, thứ Hoằng Nghị .

7- Cụ Yến sinh cụ Quy, cụ Nghĩa (đều phạt tự ), các cụ đều nhập từ đường họ Ninh

7- Cụ Hoằng Nghị huý là Lệnh tự là Hoằng Nghị tiên sinh, đỗ hương cống (tương đương với cử nhân ) năm Quý Mùi, cụ chủ tâm học nghề địa lý bèn dời mộ cụ Huyền Pháp an táng tại núi Bạch Bát và di chúc cho con cháu đời sau không được di chuyển mộ. Cụ nhận chức tri huyện Quảng Bình. Con trưởng  là  cụ Sắc đỗ Hoàng Giáp lịch thăng tứ phẩm chức ấm phong đông các học sỹ, làm hậu thần bản xã. Cụ sinh năm Cảnh trị Tam niên giờ sửu ngày 13 tháng 12 Ất Tỵ, mất ngày 4 tháng giêng thọ 81 tuổi tự là Đoan Nghị thuỵ là Cảnh trực mộ sứ Gò Giầy

- Bà chính thất Thiệu thị huý Thám người huyện Thanh Liêm , xã Kiên Sinh, bà sinh năm Thịnh đức tam niên, mất năm Chính hoà thứ 24, ngày 22 tháng 7 hiệu từ huệ ấm phong nghi nhân thọ 47 tuổi. Bà kế người cùng xã họ Lê Huý Duyên sinh năm Chính Hoà thứ 10 mất năm Cảnh Hưng thứ 17 ngày 25 tháng 11 hiệu Từ Chính Nghi Nhân thọ 68 tuổi (mộ ở xứ Cổ Lăng Bằng Hào) cụ sinh được 6 trai và 2 gái: Trưởng là cụ  Hoàng Giáp, thứ là cụ  Thanh Chương với 1 bà con gái là bà Cả Sinh (con gái lấy ông Nguyễn Chuẩn người Cù Khê).

- Bà kế sinh Cụ Nhã Thực, cụ Thị Độc, Cụ Chỉ Huy, Cụ Tuy Hiệu và 1 gái lấy ông Trịnh Bách người Yên liêu, Đinh phù, Bà hiệu là Từ Thục không có con nên thờ tại từ đường chi đệ nhị .

 8- Cụ Hoàng Giáp huý là Sắc tự là Địch (Tiến sỹ Ninh Địch)  là con cả cụ Hoằng Nghị đỗ Tiến sỹ khoa Mậu Tuất năm Lê Vĩnh Thịnh thứ 14  (đỗ Hương cống năm 19 tuổi, đỗ Hoàng Giáp năm 32 tuổi ), làm quan đến Đông các đại học sỹ, cụ sinh năm Chính hoà thứ 8 (ngày 4 tháng 2 Canh Thân), mất năm Long đức thứ 3 ngày 18 tháng 4 tên tự Ngọc Đường thuỵ thông mẫn thọ 48 tuổi mộ ở bản xã, được truy phong Hậu thần, bà chính thất  người họ Lê ở Nuốn Khê, bà thứ là phu nhân Trương Thị Hiệu từ ý người ở sở thiên kiện con gái cụ Trương Thượng thư ( thày học của Ninh Địch) sinh được 2 trai trưởng là ông Giáp, bà kế sinh thứ  ông Sưởng bà Trương Thị Sinh.

9- Ông Giáp chúng sinh đồ, ông mất năm 25 tuổi tự là Pháp tín,  thuỵ là Thông lãng. Ông sinh được 1 gái (mộ ở Từ Vũ)

9- Ông Sưởng đỗ Cử nhân, ông mất năm 25 tuổi tự là Tỷ luyện, thuỵ là Cảnh chính . Ông sinh được 1 gái .

( Như vây trong số sáu người con  trai của cụ Hoằng Nghị: Cụ Hoàng Giáp, cụ Chùm Hậu (Nhã Thực )  đều phạt tự vì vậy hiện nay dòng họ Ninh tại Côi trì từ đời thứ tám trở đi được chia thành 4 chi  )

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

Gia Phả Họ Ninh Tại An Bình

Gia Phả Họ Ninh
Tại An Bình Tỉnh Hải Dương

Làng An Bình có từ năm 998, lúc đó có tên là An Bình Khu, Đông Lâm Xá, Kim Thành. Hiện nay là làng Vừng – thôn An Bình – xã Tuấn Hưng – huyện Kim Thành – tỉnh  Hải  Dương. Người đến vùng đất này  đầu tiên là là Trần Thế Vinh tiên sinh người họ Trần.

Cụ Ninh Đình Quế, Tự Phúc Khánh là người họ Ninh đầu tiên đến làng này.

Tại làng  có 3 cột đá còn khắc bằng chữ Hán tên các cụ Ninh Đình Quế, Ninh Thị Khuya, Ninh Phú Bình.

Tại từ đường cụ Ninh Đình Trạch còn giữ được 1 tấm bia đá dựng cách nay 140 năm.

Gia phả được làm lại vào năm 1962 không ghi được từ khởi nguồn mà chỉ ghi được cho tới nay là 12 đời. Hiện tại đây có 4 ngành, 7 chi gồm khoảng 300 hộ gia đình với khoảng 800 nhân khẩu.
Sơ Đồ Ninh Tộc

Sơ Đồ Ninh Tộc

Sơ Đồ Ninh Tộc

Sơ Đồ Ninh Tộc

Sơ Đồ Ninh Tộc

Sơ Đồ Ninh Tộc

Sơ Đồ Ninh Tộc






Đang Update...

Ngọc Phả Đình Làng Ninh Xá Hạ

Ngọc Phả Đình Ninh Xá Hạ
Do Tri huyện huyện Đại An, tước An Giang Bá, Lê Huy Phan viết năm Tự Đức thứ 22 (1869)

Ông họ Ninh, tên húy là Hữu Hưng, người xã Chi Phong, tổng Trường Yên, huyện Gia Viễn. Từ thuở nhỏ vốn là người hiếu học lại có vũ dũng. Lớn lên nối tiếp cha ông làm nghề thợ mộc có nhiều sáng tạo trong nghề nên trong vùng ai cũng đều tôn phục. Vợ ông người trong xã có đức hiền thục cũng giúp ông được nhiều việc trong nghề.
Đình Ninh Xá Ý Yên

Một hôm hai vợ chồng ông đi thuyền tới miếu sơn thần tế lễ. Xong việc khi về nhà cơm nước rồi đi ngủ được một lúc lâu bỗng có một người đầu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc bước vào trong cửa niềm nở chào hỏi rồi dẫn ông tới một cái hang to sâu không biết đến chừng nào. Ở bên cửa hang có hai lực sỹ dẫn ông đi tiếp đến một nơi đền gác nguy nga, bạc vàng chói lọi rồi hai lực sỹ ấy quay trở lại. Lại một vị khác mặc áo bào xanh ra dẫn ông vào trong điện. Tòa điện có tên là Kim Quang này quả ở cõi dương thế chưa hề có. Ông liếc qua thấy rõ, nhưng chỉ phủ phục trước bệ không dám nhìn lên.

Diêm Đế cất tiếng vàng sang sảng hỏi:

- Trẫm nghe nhà ngươi ở cõi dương gian có nghề mộc giỏi nên mới tìm ngươi xuống đây giúp việc cho trẫm, chẳng hay ngươi nghĩ thế nào?

Ông Ninh tâu:

- Vạn tuế! Nếu kẻ hạ dân thấp hèn này được thánh thượng hạ cố thì đâu không dám hết lòng.

Thế rồi ông được dẫn tới một gian nhà trong dãy xưởng mộc đầy người. Ông được giao công việc chế dựng cung điện, ông tuân theo và cùng các vị trong đó làm việc. Tại đó có nhiều người giỏi nghề, ông Ninh chăm chú theo dõi học hỏi và cũng đem cách thức dựng nhà cửa của mình kết hợp. Ít lâu sau, ông nhớ nhà bèn đến trước bệ tâu bày nỗi niềm xa cách quê hương xin trở lại Dương gian.

Diêm đế đồng ý nhưng dạy rằng:

– Nhà ngươi trở về, trẫm cho đem theo nghề về làm để sinh sống, nhưng không được tiết lộ nghề ở đâu mà ra. Nếu trái lời thì nhà ngươi sẽ không sống được vì hiện đã có một con dao nhỏ trong cổ hầu nhà ngươi rồi đó.

Ông Ninh tuân lời, bái tạ rảo bước ra về. Khi ông tỉnh lại thì sự việc đã quá ba ngày rồi. Người nhà xúm lại hỏi thăm nhưng ông không nói gì cả., chỉ kêu mệt mà thôi.

Ông Ninh sống bằng nghề đó ngày một khá giả. Trong vùng nhiều người tìm đến theo học. Vì thế vùng này dần trở nên đông đúc.

Tới khi Đinh Tiên Hoàng đế thống nhất đất nước, định đô tại thành Hoa Lư, ông được nhà vua triệu ra xây dựng các cung điện nơi vua ngự. Ông được dịp thi thố tài năng và vì vậy được vua ban cho chức ” Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân”

Sau khi Lê Đại Hành đánh thắng quân Tống  lại cho xây dựng cung thất. Ông lại được trọng dụng như xưa. Một ngày trong lúc đất nước thanh bình, vua nghĩ nên khuyến khích việc cày cấy nông trang. Do ông Ninh có vũ dũng hơn người nên được chọn đi theo xa giá vua. Lúc trở về đỗ thuyền ở Thiết Lâm, vua lên bờ ghé vào ngôi đền thờ Lương Bình Vương thấy nơi đây miếu cổ lạnh lùng dưới bóng dương tà, tường vách xiêu vẹo, rêu xanh phủ lên ẩm ướt. Xúc cảnh sinh tình, vua cho ông ở lại dốc sức tu sửa đền thờ. Bấy giờ là năm Tân Mão  tháng 4 ngày 24 (ngày 9 tháng 6 năm 991).

Sau khi tu sửa đền thờ hai vương xong, ông lại được mệnh trên cho sửa lại ngôi chùa thờ Phật. Bởi vậy, chùa này có tên “Phúc Lê Tự” là lấy ý vua Lê kiến nguyên ban đầu có tên ấy vậy.

Từ ấy, ông lưu cư ở đó. Ông khuyên con cháu,  họ hàng và mọi người khai khẩn đất hoang cày cấy. Ông còn đem tiền của chiêu mộ dân các nơi tụ hội lập ra trang ấp và dạy cho dân làm theo nghề mộc của mình. Công đức của ông thấm tới mọi người rất là sâu rộng.

Ông được dân trong vùng yêu mến, coi như bậc cha mẹ sinh thành. Một hôm có một số ông già trong vùng tới cùng ông rượu trà vui vẻ. Trong tiệc vui, ông không nhớ tới những điều năm xưa xuống cõi Diêm La nên đem  mọi bí mật  đầu đuôi nhất nhất kể ra. Bỗng nhiên một luồng gió đen thổi lại làm cho ông  ngã vật ra mê man bất tỉnh rồi dẫn đến việc ông chán cõi đời. Bầy giờ là triều vua Lý Thái Tổ, năm Kỷ Mùi (1019), niên hiệu Thuận Thiên, tháng 4, ngày 6, ông hưởng thọ 81 tuổi. Con cháu ông cùng mọi người trong vùng họp bàn việc an táng và thống nhất đem linh cữu ông xuống thuyền chở về nơi cũ, chôn ở chân núi Xương Bồ quay mặt về phía miếu sơn thần khi trước.

Xong việc, dân chúng vùng Thiết Lâm đem việc tâu lên và được triều đình cho tôn hiệu là “Lão La Đại Thần Tiên Sư” và đổi tên Thiết Lâm thành Ninh Xá, chuẩn cho dân trong vùng rước thần vị phối thờ vào hàng dưới hai Vương (Lương Bình Vương và An Nhu Vương) lấy ý đều là công thần của đất nước.

Nay nhân Phan tôi có việc trở về quê ngoại, bỗng gặp các vị phụ lão trong xã đang tụ hội bàn việc biên tập sự tích Lão  La Đại Thần Tiên Sư. Các cụ nói:

- Trong đền khi trước vốn có Thần phả, song năm xưa đã mất đi trong lần binh mã Thanh triều về tàn phá ở địa phương. Mọi người đã bàn nhiều lần về việc ấy, song từ đời này sang đời khác vẫn chưa làm được. Nay may gặp đại nhân, xin nhờ đại nhân giúp cho.

Phan tôi đáp:

- Việc đáng làm thì nên làm, nhưng xin cho tôi xem lại đền chút đã.

Thế rồi tôi đi khắp các Triều thị, Liêu viên. Lúc trở về đền, Phan tôi mới dám cầm bút viết ra những điều tai nghe mắt thấy. Cúi trông vị tiên thánh sáng tạo nghề nghiệp đại xá cho tôi.

Thực muôn trông đức lớn âm phù vậy!

Ngày tốt, tháng 4, Niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869)

Tri huyện huyện Đại An, tước An Giang Bá, Lê Huy Phan kính cẩn ghi việc.

Gia Phả Họ Ninh Tại La Xuyên

Gia Phả Một Nhánh Họ Ninh
Tại Thôn La Xuyên
Gia phả họ Ninh tại thôn La Xuyên, xã Yên Ninh ghi bắt đâu từ Cụ tổ Ninh Duy Độ tới nay là 15 đời.

Cụ Ninh Duy Độ là Tuyên chính sứ (chức quan coi việc hành chính, tư pháp) của 1 trong 13 đạo dưới triều nhà Lê.

Đời thứ 5, cụ Phúc Xưng có 2 con là Ninh Duy Thản (tự Nho Thiên) và Ninh Duy Lượng (tự Phúc Lương). 

Chi của  cụ Ninh Duy Thản từ sau Đời thứ 9 chưa được cập nhật tiếp  trong bản Gia Phả này:
Bản Gia phả này mới chỉ  ghi Chi của cụ Ninh Duy Lượng 

Đến Đời thứ 9, Chi của cụ Ninh Duy Lượng chia thành 6 Phân Chi:

-  Cụ Phúc Lễ: khởi tổ Phân Chi 1

-  Cụ Trực Chính: khởi tổ Phân Chi 2

-  Cụ Phúc Tần: khởi tổ Phân Chi 3

-  Cụ Trung Xán: khởi tổ Phân Chi 4

Phân Chi 4 chia thành 4 ngành:

+ Ngành từ cụ Ninh Văn Trù

+ Ngành từ cụ Ninh Văn Trì

+ Ngành từ cụ Ninh Văn Sản

+ Ngành từ cụ Ninh Văn Viên (tức Ninh Văn Độ)

-  Cụ Trung Thần: khởi tổ Phân Chi 5

-  Cụ Phúc Tuân: khởi tổ Phân Chi 6



ĐỜI THỨ 1

Ninh Duy Độ. thụy Phúc Khánh.

Tuyên chính sứ chỉ quân hầu.

Giỗ 23 tháng 9. Mộ tại Đồng Chùa.

Vợ:  Hiệu Tu Xuân. Giỗ 14 tháng 2. Mộ tại Đồng Chùa.

Các con:  Ninh Đức Chính

Theo “LỊCH TRIỀU HIẾN CHƯƠNG LOẠI CHÍ” của Phan Huy Chú: Thời nhà Lê,  lúc đầu cả nước được chia thành 5 Đạo, sau chia thành 13 Đạo. Việc cai quản 1 Đạo lúc đầu do chức quan Hành Khiển, sau đó do 3 ty: Đô tổng binh sứ ty (phụ trách quân sự), Tuyên chính ty sau đổi thành Thừa tuyên ty (phụ trách các việc dân sự, kiện tụng, hộ khẩu, . . .), Hiến sát ty (phụ trách các việc thanh tra, giám sát). Đứng đầu Tuyên chính ty là Tuyên chính sứ. Chúc Tuyên chính sứ thuộc hàng Tùng Tam Phẩm. Cụ tổ Ninh Duy Độ là Tuyên chính sứ của 1 trong 13 Đạo, đứng vào hàng Tùng Tam Phẩm.



ĐỜI THỨ 2

Ninh Đức Chính (Con cụ Ninh Duy Độ). thụy Chính Tâm.

Giỗ 23 tháng 7. Mộ tại Mả Cộc

Vợ: Hiệu Từ An. Giỗ 8 tháng 6. Mộ tại Đồng Chùa. Các con: Ninh Khắc Tuấn.



ĐỜI THỨ 3

Ninh Khắc Tuấn (Con cụ Ninh Đức Chính). thụy Bình Thiện.

Giỗ 9 tháng 2. Mộ tại Đồng Chùa.

Vợ: Hiệu Từ Ý. Giỗ 4 tháng 2. Mộ tại Viên Ninh.

Các con:

- Thụy Chân Sỹ

-  Thụy Phúc Tuyên

-  Hiệu Tảo Xuân



ĐỜI THỨ 4

1. Cụ thụy Chân Sỹ (Con cụ Ninh Khắc Tuấn).

Giỗ 12 tháng 5. Mộ tại Viên Ninh Các con: không thấy ghi.

2. Cụ thụy Phúc Tuyên (Con cụ Ninh Khắc Tuấn).

Giỗ 27 tháng 2. Mộ tại Mả Đằng ngoài Tân Cầu.

Vợ: Hiệu Từ Quý. Giỗ 7 tháng 5. Mộ tại Tân Cầu

Các con:

- Thụy Phúc Xưng



ĐỜI THỨ 5

Cụ thụy Phúc Xưng (Con cụ Phúc Tuyên).

Giỗ 15 tháng 7. Mộ tại Mả Vượt

Vợ: Hiệu Thục Thanh. Giỗ 28 tháng 2. Mộ tại Vườn Ra

Các con:

- Ninh Duy Thản

- Ninh Duy Lượng



ĐỜI THỨ 6

1. Ninh Duy Thản (Con cụ Phúc Xưng). thụy Nho Thiên.

Giỗ 23 tháng 7. Mộ tại Mả Đằng.

Vợ: Hiệu Diệu Tường. Giỗ 29 tháng 9. Mộ tại Đồng Chùa

Các con:         – Ninh Duy Trung.

2. Ninh Duy Lượng (Con cụ Phúc Xưng). thụy Phúc Lương.

Giỗ 3 tháng 3. Mộ tại Mả Vượt.

Vợ: Không rõ Hiệu. Giỗ 25 tháng 6. Mộ tại Mả Đài.

Các con:

- ThụyThiên Xuân

-  Thụy Thiện Chuyên



ĐỜI THỨ 7

1. Ninh Duy Trung (Con cụ Ninh Duy Thản). thụy Phúc Thụ.

Làm Tri huyện. Giỗ 6 tháng 7. Mộ tại gò Đại Thần.

Vợ: Hiệu Từ Nghĩa. Giỗ 6 tháng 7. Mộ tại Đồng Giữa

Các con:

- Cụ Tú Diễn

- Cụ Tú Liêu

2. Thụy Thiên Xuân (Con cụ Ninh Duy Lượng).

Giỗ 23 tháng 2. Mộ tại Mả Vượt.

Vợ: Hiệu Từ Nguyên. Giỗ 29 tháng 9. Mộ tại Mả Vượt

Các con: Không thấy ghi

3.  Thụy Thiện Chuyên (Con cụ Ninh Duy Lượng). Giỗ 6 tháng 9.

Mộ tại Mả Đằng, chuyển về xây tại Mả Đài

Vợ: Không rõ Hiệu

Các con:

- Thụy Thiện Trực

- Thụy Trung Thành



ĐỜI THỨ 8

1. Cụ Tú Diễn (Con cụ Ninh Duy Trung). Thụy  Tính Thuật.

Giỗ 9 tháng 1. Mộ tại Mả Vượt

Vợ: Hiệu Từ Tín. Giỗ 20 tháng 12. Mộ tại Mả Vượt

Các con:

- Ninh Văn Căn

- Ninh Văn Cánh

2. Cụ Tú Liêu (Con cụ Ninh Duy Trung). Thụy  Tình Nhân

Vợ: Hiệu Từ Huấn

Các con:

- Thụy Phúc Trung

- Thụy Đoan Bình

- Thụy Trung Nguyên

3. Thụy Thiện Trực (Con cụ Thiện Chuyên).

Giỗ 13 tháng 9. Mộ tại Đồng Quy Xứ

Vợ: Hiệu Từ Thái. Giỗ 26 tháng 3. Mộ tại Viên Ninh

Các con:

- Thụy Phúc Lễ

- Thụy Trực Chính

- Thụy Phúc Tần

4. Thụy Trung Thành tức Cụ cố Ất (Con cụ Thiện Chuyên).

Giỗ 6 tháng 10. Mộ tại Mả Già

Vợ:

- Hiệu Từ Vĩnh. Giỗ 10 tháng 2

- Hiệu Từ Châu. Giỗ 20 tháng 3

Các con:

- Thụy Trung Sán

- Thụy Thiện Phục

- Thụy Trung Thần

- Hiệu Diệu Thuần

- Thụy Phúc Tuân



ĐỜI THỨ 9

1. Ninh Văn Căn (Con cụ Tú Diễn). Thụy Phúc Hào.

Giỗ 4 tháng 6

Vợ: Hiệu Nhân Tâm

Các con: Không thấy ghi

2. Ninh Văn Cánh (Con cụ Tú Diễn). Thụy Phúc Hưng.

Giỗ 22 tháng 9

Vợ:

- Hiệu Diệu Định

- Hiệu Tảo Ro

- Hiệu Diệu Sinh

- Hiệu Diệu Hảo

- Hiệu Từ Hương

Các con: Không thấy ghi

3. Thụy Phúc Trung.(Con cụ Tú Liêu)

Vợ: Hiệu Từ Giá Các con: Không thấy ghi

4. Thụy Đoan Bình (Con cụ Tú Liêu)

Vợ: Hiệu Từ Nho

Các con: Không thấy ghi

5. Thụy Trung Nguyên (Con cụ Tú Liêu)

Vợ: Hiệu Từ Nguyên

Các con: Không thấy ghi

6. Thụy Phúc Lễ (Con cụ Thiện Trực) – Khởi tổ Phân Chi 1

Mộ tại Mả Tre

Vợ: Hiệu Từ Hựu. Mộ tại Viên Ninh

Các con:

- Thụy Phúc Úy (Cụ già Thuận)

- Thụy Phúc Mỹ

- Thụy Phúc Giản

7. Thụy Trực Chính (Con cụ Thiện Trực) – Khởi tổ Phân Chi 2

Vợ: Hiệu Từ Hóa. Mộ tại Viên Ninh

Các con: Cụ Già Vét

8. Thụy Phúc Tần (Con cụ Thiện Trực) – Khởi tổ Phân Chi 3

Giỗ 7 tháng 7. Mộ tại Trịnh Xá

Vợ: Hiệu Từ Mẫn. Giỗ 19 tháng 12.

Các con:

- Thụy Thiện Bạch (Cụ Hườn)

- Thụy Phúc Rự (Cụ Lực)

- Thụy Phúc Hạng (Cụ Liễn già)

- Hiệu Từ Thắng

- Thụy Phúc Thông (Cụ Binh)

- Hiệu Từ Lượng (Bà Dách)

- Thụy Phúc Thịnh (Cụ Xuồng)

9. Ninh Văn Đễ . Thụy Trung Xán (Con cụ Trung Thành). – Khởi tổ Phân Chi 4

(tức Cố Giáp)

Cụ làm thuốc Đông Y, đặc biệt chữa đau mắt. Thuốc đau mắt La Xuyên bắt đầu từ cụ

Giỗ 3 tháng 10. Mộ tại Đồng Chùa.

Vợ:

- Hiệu Từ Hảo. Giỗ 26 tháng 5. Mộ tại Mả tre

- Hiệu Từ Hòa. Giỗ 24 tháng 11. Mộ tại Vườn Ra

Các con:

- Thụy Huệ Cát ( Cụ Ruội)

- Thụy Trực Đạo (Cụ Đạt)

- Ninh Văn Nghiệp (Cụ Ly Bình)

- Thụy Tảo Đán (Cụ Đởn)

- Bà Tổng Yên

- Bà Phó Vòng cả

- Bà Phó Vòng hai

- Bà Phó Tuất

10. Thụy Thiện Phục (Con cụ Trung Thành).

Vợ:

- Hiệu Trịnh Vạn

- Hiệu Tảo Nghinh

- Hiệu Tảo Hoang

Các con: Không thấy ghi

11. Thụy Trung Thần, tức Cụ Cai (Con cụ Trung Thành) – Khởi tổ Phân Chi 5

Giỗ 27 tháng 2. Mộ tại Mả Đài.

Vợ:

- Hiệu Từ Xuân. Giỗ 26 tháng 10. Mộ tại Đồng Chùa

- Hiệu Diệu Viên. Giỗ 12 tháng 12. Mộ tại Mả Đài.

Các con:

- Bà Cựu Túc

- Ninh Viết Bình (Cụ Chánh Quỹ)

- Bà Thủ Yết

- Bà Hội Tuy

- Ninh Văn Như (Cụ Như)

- Hiệu Tảo Linh

12. Thụy Phúc Tuân (Con cụ Trung Thành) – Khởi tổ Phân Chi 6

Vợ:

- Hiệu Diệu Ái

- Hiệu Từ Lân

Các con:

- Cụ Ngợi

- Thụy Thiện Vũ (Cụ Vựa)

-  Hiệu Diệu Hộ (Bà Chuột)

Từ Đời thứ 9, chia thành 6 Phân Chi

+ Phân Chi 1: Khởi tổ từ cụ Phúc Lễ

+ Phân Chi 2: Khởi tổ từ cụ Trực Chính

+ Phân Chi 3: Khởi tổ từ cụ Phúc Tần

+ Phân Chi 4: Khởi tổ từ cụ Trung Xán

+ Phân Chi 5: Khởi tổ từ cụ Trung Thần

+ Phân Chi 6: Khởi tổ từ cụ Phúc Tuân



ĐỜI THỨ 10

1. Thụy Phúc Úy tức Cụ già Thuận(Con cụ Phúc Lễ).

Giỗ 5 tháng 10. Mộ tại Mả Tre

Vợ: Hiệu Từ Chiêm. Giỗ 24 tháng 1

Các con:

- Ninh Thị Ân. Hiệu Từ Ngân

- Ninh Văn Thuận. Thụy Phúc Thuận

- Ninh Văn Thụ. Thụy Phúc Hòa

2. Thụy Phúc Mỹ (Con cụ Phúc Lễ).

Mộ tại Gồ Nả Vợ: Hiệu Từ Hương. Giỗ 15 tháng 10. Mộ tại Mả Khuếch

Các con:

- Ninh Thị Cừu.

- Ninh Văn Duyệt

3. Thụy Phúc Giản. Giỗ 26 tháng 6. Mộ tại Gồ Nả

Vợ: Hiệu Từ Nhỏ. Giỗ 26 tháng 5. Mộ tại Gồ Nả

Các con:

- Ninh thị Gạo (bà Cải)

- Ninh Thị Tim (bà Nguộc)

4. Cụ Già Vét (Con cụ Trực Chính).

Các con:

- Ninh Thị Vét

- Ninh Văn Thơm. Tự Phúc Thơm

- Ninh Thị Vén.

5. Thụy Thiện Bạch, tức Cụ Hườn (Con cụ Phúc Tần).

Giỗ 7 tháng 7. Mộ tại Trịnh Xá

Vợ: Hiệu Từ Mẫn. Giỗ 19 tháng 12

Các con: Không thấy ghi

6. Thụy Phúc Rự, tức Cụ Lực (Con cụ Phúc Tần)

Vợ: Hiệu Diệu Bích

Các con: Không thấy ghi

7. Thụy Phúc Hạng, tức Cụ Liễn già (Con cụ Phúc Tần).

Giỗ 19 tháng 9.

Vợ: Hiệu Từ Tính. Giỗ 12 tháng 12.

Các con:

- Ninh Văn Liễn

- Ninh Văn Mân

8. Thụy Phúc Thông, tức Cụ Binh (Con cụ Phúc Tần).

Giỗ 24 tháng 4. Mộ tại Mả Đài.

Vợ: Hiệu Từ Thanh. Giỗ 14 tháng 4. Mộ tại Mả Đài.

Các con:

- Ninh Văn Việt. Thụy Tảo Tuất. Giỗ 19 tháng 6. Mộ tại Mả Đài

- Ninh Thị Gấm

- Ninh Khắc Đạc

9. Thụy Phúc Thịnh, tức Cụ Xuồng (Con cụ Phúc Tần)

Các con:

- Ninh Thị Xuồng

-Ninh Thị Sách

- Ninh Thị Tuy

10.Thụy Huệ Cát, tức Cụ Ruội (Con cụ cố Giáp)

Vợ: Con: Không thấy ghi

11.Thụy Trực Đạo, tức Cụ Đạt (Con cụ cố Giáp).

Giỗ 27 tháng 4. Mộ tại Vườn Ra

Các con: thất tự.

12.Ninh Văn Nghiệp, tức Cụ Lý Bình (Con cụ cố Giáp). Thụy Trung An.

Cụ tham gia đạo quân do Nguyễn Tri Phương chỉ huy chống quân Pháp tại Đại đồn Kỳ Hòa (Sài Gòn ngày nay), tham gia 2 trận Cầu Giấy (21/12/1873 và 19/5/1883).

Giỗ 19 tháng 11. Mộ tại Mả Đài

Vợ:

- Hiệu Diệu Diễm. Giỗ 10 tháng 10

- Hiệu Diệu Tiết. Giỗ 2 tháng 5

- Hiệu Từ Thủ. Giỗ 17 tháng 9. Mộ táng tại Đồng Giao – thị trấn Tam Điệp (nay thuộc  Công  ty xuất nhập khẩu và chế biến hoa quả Đồng Giao, Thị Trấn Tam Điệp, Tỉnh Ninh Bình)

Các con:

- Ninh Văn Trù (Thụy Quý Tĩnh)

- Ninh Văn Trì (Thụy Trung Kỳ)

- Ninh Thị Đỉnh (hiệu Diệu Chỉnh)

- Ninh Văn Sản, tức Bình (Thụy Phúc Sinh)

- Ninh Thị Đang (hiệu Tảo Đang)

- Ninh Thị Nha

- Ninh Văn Viên, tức Độ (Thụy Trung Độ)

13.Tự Tảo Đán, tức Cụ Đởn (Con cụ cố Giáp). Giỗ 27 tháng 2. Mộ tại Vườn Ra

Các con: thất tự

14. Ninh Viết Bình, tức Cụ Chánh Quỹ (Con cụ Trung Thần). Thụy Phúc Bình.

Giỗ 1 tháng 9. Mộ tại Mả Đài.

Vợ: Hiệu Từ Hưỡn. Giỗ 1 tháng 10. Mộ tại Mả Đài

Các con:

- Ninh Thị Hân (Hiệu Diệu Hân)

- Ninh Viết Đán

- Ninh Thị Châm

- Ninh Viết Vỵ

15. Ninh Văn Như, tức Cụ Như (Con cụ Trung Thần).

Giỗ 7 tháng 2. Mộ tại Mả Đài

Vợ:

- Ninh Thị Là

-  Phạm Thị Vờn

Các con:

- Ninh Thị Nhự

- Ninh Văn Thoan (Thụy Phúc Thoan)

16. Cụ Ngợi (Con cụ Phúc Tuân)

Vợ:

Các con:

- Ninh Duy Nghị (tự Phúc Nghị)

- Thụy Tảo Đới

- Ninh Văn Tợi (Thụy Phúc Tại)

- Ninh Thị Mợi (hiệu Diệu Mợi)

- Hiệu Diệu Lợi

17. Tự Thiện Vũ, tức Cụ Vựa (Con cụ Phúc Tuân).

Vợ: Hiệu Từ Quây

Các con:

- Ninh Văn Vinh (Thụy Phúc Vinh)

- Thụy Tảo Rong

- Ninh Văn Vận (Nia).

- Thụy Thiện Vận – Không rõ tên



ĐỜI THỨ 11

1. Ninh Văn Thuận (Con cụ Phúc Úy). Thụy Phúc Thuận.

Giỗ 8 tháng 5. Mộ tại Vườn Bái

Vợ: Hiệu Từ Sáo. Giỗ 2 tháng 11. Mộ tại Vườn Bái.

Các con:

- Ninh Văn Tu

- Ninh Văn Trọng

- Ninh Văn Thụ

2. Ninh Văn Thụ (Con cụ Phúc Úy). Thụy Phúc Hòa.

Giỗ 15 tháng 10. Mộ tại Hưng Yên

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

3. Ninh Văn Duyệt (Con cụ Phúc Mỹ)

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

4. Ninh Văn Thơm (Con cụ Vét). Thụy Phúc Thơm.

Giỗ 22 tháng 4. Mộ tại Nghĩa Trang

Vợ: Vũ Thị Thớp. Giỗ 14 tháng 2. Mộ tại Nghĩa trang Nhân Dân

Các con:

- Ninh Thị Hải

- Ninh Văn Hồng. Thụy Phúc Hồng

- Ninh Thị Hưng

5. Ninh Văn Liễn (Con cụ Phúc Hạng)

Các con:

- Ninh Văn Hội

- Ninh Văn Hợp

- Ninh Văn Thụ

6. Ninh Văn Mân (Con cụ Phúc Hạng).

Giỗ 8 tháng 3. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Không ghi tên. Giỗ 15 tháng 11. Mộ tại Mả Đài

Các con:

- Ninh Văn Thịnh

- Ninh Thị Suốt

- Ninh Văn Sính

- Ninh Thị Sót

7. Ninh Văn Việt (Con cụ Phúc Thông). Thụy Tảo Tuất.

Giỗ 19 tháng 6. Mộ tại Mả Đài

Vợ: không ghi

Các con: thất tự

8. Ninh Khắc Đạc (Con cụ Phúc Thông). Tự Thiện Trực.

Giỗ 7 tháng 5

Vợ: Hiệu Diệu Trúc. Giỗ 8 tháng 8. Mộ tại Mả Đài

Các con:

- Ninh Văn Mô

- Ninh Thị Kiên (bà Xã Ca)

- Ninh Thị Tám (bà Cương)

- Ninh Văn Mạc

9. Ninh Văn Trù (Con cụ Ninh Văn Nghiệp). Thụy Quý Tĩnh.

Giỗ 5 tháng 2.

Vợ:

- Vũ Thị Loan. Hiệu Đàm Loan. Giỗ 5 tháng 7

- Tạ Thị Luyến. Hiệu Diệu Xuyến. Giỗ 8 tháng 1

Các con:

- Ninh Thị Triển

- Ninh Văn Bác

- Ninh Văn Hợi

10. Ninh Văn Trì (Con cụ Ninh Văn Nghiệp). Thụy Trung Kỳ.

Giỗ 21 tháng 11

Vợ: Phạm Thị Nhị

Các con:

- Ninh Thị Hoãn

- Ninh Thị Nhạn

- Ninh Thị Đà

- Ninh Thị My

- Ninh Thị Ngư

- Ninh Văn Quảng

- Ninh Văn Đãng

11. Ninh Văn Sản, tức Bình (Con cụ Ninh Văn Nghiệp). Thụy Phúc Sinh

Vợ: Phạm Thị Khiếu. Hiệu Diệu Đẩu

Các con:

- Ninh Thị San

- Ninh Văn Uyển (không rõ thông tin)

- Ninh Văn Hồ

12. Ninh Văn Viên, tức Độ (Con cụ Ninh Văn Nghiệp). Thụy Trung Độ.

Giỗ 10 tháng 5. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Phạm Thị Huệ. Hiệu Từ Tâm. Giỗ 26 tháng 1.

Mộ táng tại xứ Phương Sơn, xóm Liên Sơn, Thôn Liên Huy, Xã Gia Thịnh, Huyện Gia Viễn, Tỉnh Ninh Bình

Các con:

- Ninh Văn Lâm. Thụy Phúc Lâm

- Ninh Văn Phúc. Thụy Phúc Tăng

- Ninh Văn Hoan. Thụy Phúc Hoan

- Ninh Thị Tín

- Ninh Văn Bốn

- Ninh Thị Mật

13. Ninh Viết Đán (con cụ Ninh Viết Bình, tức cụ Chánh Quỹ).

Mộ tại Mả Đài

Vợ:

- Phạm Thị Cà, Hiệu Diệu Đà. Giỗ 1 tháng 6. Mộ tại Mả Đài.

- Phạm Thị Lâm

Các con

- Ninh Thị Lê

- Ninh Thị Kê

- Ninh Viết Đính

- Ninh Viết Nhạ

- Ninh Viết Tạ

- Ninh Viết Thỉnh

- Ninh Viết Thụy

- Ninh Thị Xuyên

- Ninh Viết Cẩn

14. Ninh Viết Vỵ, tự Tảo Vỵ ((con cụ Ninh Viết Bình, tức cụ Chánh Quỹ).

Giỗ 11 tháng 7. Mộ tại Mả Đài.

Vợ: Không thấy ghi

Các con: Không thấy ghi

15. Ninh Văn Thoan (Con cụ Ninh Văn Như).Thụy  Phúc Thoan.

Giỗ 27 tháng 10. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Phạm Thị Nhớn

Các con:

- Ninh Thị Tô (bà Mỹ)

- Ninh Thị Tước (bà Niệm)

- Ninh Văn Đưởng

- Ninh Khắc Vận

- Ninh Thị Tuyến

- Ninh Thị Sáu

16. Ninh Duy Nghị (Con Cụ Ngợi). Thụy Phúc Nghị

Vợ: Phạm Thị Châm. Hiệu Diệu Châm

Các con:

- Thụy Thiện Ngữ

- Thụy Tảo Cổ

- Thụy Tảo H

- Ninh Thị Lữ -

17. Thụy Tảo Đới (Con Cụ Ngợi).

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

18. Ninh Văn Tợi (Con Cụ Ngợi). Thụy Phúc Tại.

Giỗ 24 tháng 6. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Phạm Thị Sơ. Giỗ 19 tháng 10. Mộ tại Mả Đài

Các con:

- Ninh Văn Đâng

- Ninh Văn Đân

- Ninh Văn Tý

- Ninh Thị Bốn

19. Ninh Văn Vinh (Con cụ Thiện Vũ). Thụy Phúc Vinh.

Giỗ 19 tháng 4

Vợ: Hiệu Diệu Ất

Các con:

- Ninh Văn Mão

- Ninh Thị Tuất

- Ninh Văn Dậu

- Ninh Thị Dần

20. Thụy Tảo Rong (Con cụ Thiện Vũ)

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

21. Ninh Văn Vận (Con cụ Thiện Vũ). Thụy Thiện Vận

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi.



ĐỜI THỨ 12

1. Ninh Văn Tu (Con cụ Ninh Văn Thuận). Sinh năm 1915

Vợ: Nguyễn Thị Huyền.

Các con:

- Ninh Văn Dự

- Ninh Văn Lĩnh

- Ninh Thị Xuyến

- Ninh Văn Thêm

2. Ninh Văn Trọng (Con cụ Ninh Văn Thuận).

Giỗ 5 tháng 2. Mộ tại Vườn Bái

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

3. Ninh Văn Thụ (Con cụ Ninh Văn Thuận).

Mộ táng ở Lào.

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

4.  Ninh Văn Hồng (Con cụ Ninh Văn Thơm). Thụy Phúc Hồng.

Liệt sỹ. Mộ tại Nghĩa trang

Vợ: Nguyễn Thị Tính. Liệt sỹ. Mộ tại Nghĩa trang

Các con:

- Ninh Thị Nguyệt

- Ninh Văn Yến

- Ninh Văn Phùng

- Ninh Văn Oanh

- Ninh Văn Dũng

5. Ninh Văn Hội (Con cụ Ninh Văn Liễn).

Giỗ 24 tháng 3. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Phạm Thị Nhạn. Giỗ 15 tháng 7. Mộ tại Mả Đài.

Các con:

- Ninh Thị Cà

- Ninh Văn Định

- Ninh Văn Thưởng

6. Ninh Văn Hợp (Con cụ Ninh Văn Liễn).

Mộ tại Hòa Bình

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

7. Ninh Văn Thụ (Con cụ Ninh Văn Liễn)

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

8. Ninh Văn Thịnh (Con cụ Ninh Văn Mân).

Giỗ 8 tháng 4. Mộ tại Mả Đài

Vợ: không thấy ghi

Các con: thất tự

9. Ninh Văn Sính (Con cụ Ninh Văn Mân).

Sinh 1918. Giỗ 28 tháng 5. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Tạ Thị Trụ. Sinh 1922

Các con:

- Ninh Thị Khang

- Ninh Văn Lý

10. Ninh Văn Mô (Con cụ Ninh Khắc Đạc).

Giỗ 14 tháng 4. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Dương Thị Tỏ. Hiệu Diệu Tỏ. Giỗ 21 tháng 4. Mộ tại Mả Đài.

Các con:

- Ninh Văn Kế

- Ninh Quang Hiến

11. Ninh Văn Mạc (Con cụ Ninh Khắc Đạc).

Sinh 1917. Giỗ 29 tháng 4. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Dương Thị Sâm. Sinh 1922. Hiệu Diệu Nhung. Giỗ 15 tháng 3. Mộ tại Mả Đài.

Các con:

- Ninh Văn Loan

- Ninh Văn Vinh

- Ninh Thị Ngừ

12. Ninh Văn Bác (Con cụ Ninh Văn Trù)

Vợ: Ngô Thị Phước

Các con:

- Ninh Ngô Công

- Ninh Thị Nhật

- Ninh Thị Nguyệt

- Ninh Thị Hoa

13. Ninh Văn Hợi (Con cụ Ninh Văn Trù)

Vợ: Bà Chuộng

Các con:

- Ninh Văn Long

- Ninh Văn Đào

- Ninh Thị Quế

14. Ninh Văn Quảng (Con cụ Ninh Văn Trì).

Hiện đang sống tại Hoa Kỳ

Vợ: Phạm Thị Tỉnh

Các con:

- Ninh Văn Dũng

- Ninh Thị Quế

- Ninh Văn Hân

- Ninh Vĩnh Khang

- Ninh Thị Hạnh

- Ninh Vĩnh Tường

15. Ninh Văn Tiêu (tức Ninh Văn Đãng ) (Con cụ Ninh Văn Trì).

Sinh: 1935. Hiện đang sống tại Hoa Kỳ

Vợ: Vũ Thị Nhoa

Con:

- Ninh Thị Thanh Mai (tức Mai Võ)

- Ninh Thị Thanh Diệp (tức Vicky Nguyen)

- Ninh Thị Thanh Tâm

- Ninh Thị Thanh Thúy (tức Thuy Vu)

- Ninh Văn Huyen (tức Winston Ninh)

16. Ninh Văn Uyển (Con cụ Ninh Văn Sản):

Sinh 1910. Mất năm 1974 tại Sài Gòn.

Thất tự.

17. Ninh Văn Hồ (Con cụ Ninh Văn Sản).

Giỗ 28 tháng 10. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Phạm Thị Chai. Giỗ 14 tháng 2.

Các con:

- Ninh Văn Hùng

- Ninh Xuân Mỹ

- Ninh Quyết Thắng

18. Ninh Văn Lâm (Con cụ Ninh Văn Viên, tức Độ). Thụy Phúc Lâm.

Giỗ 6 tháng 1

Vợ: Phạm Thị Chính. Hiệu Diệu Chính. Giỗ 16 tháng 4

Các con:

- Ninh Văn Kiểm

- Ninh Thị Nhung

- Ninh Thị Quy

- Ninh Văn Phú

- Ninh Thị Thục

19. Ninh Văn Phúc (Con cụ Ninh Văn Viên, tức Độ). Thụy Phúc Tăng.

Giỗ 24 tháng 7

Vợ:

- Phạm Thị Điệt. Hiệu Diệu Điệt

- Ngô Bích Liên

- Hoàng Thị Xuân

Các con:

- Ninh Thanh Tùng

- Ninh Công Tráng

- Ninh Quang Đức

- Ninh Quang Thắng

20. Ninh Văn Hoan (Con cụ Ninh Văn Viên, tức Độ). Thụy Phúc Hoan.

Sinh 1914. Giỗ 9.2. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Trần Thị Ngọc Minh – Hiệu Diệu Thanh. Giỗ 4.12. Mộ tại Mả Đài

Các con:

- Ninh Ngọc Lan

- Ninh Quốc Tuấn

- Ninh Kim Thu

- Ninh Quang Hải

- Ninh Kim Yên

- Ninh Quang Thăng

- Ninh Kim Mai

21. Ninh Văn Bốn (tức Đường). Thụy Phúc Đường

(Con cụ Ninh Văn Viên, tức Độ)

Sinh 1923. Giỗ 28.12

Vợ: Trương Thị Nhâm

Các con:

- Ninh Văn Hưng

- Ninh Văn Hiển

- Ninh Thị Vinh

- Ninh Thị Quang

- Ninh Quang Huy

- Ninh Huy Hoàng

- Ninh Quang Tiến

- Ninh Quang Lợi

23. Ninh Viết Đính (Con cụ Ninh Văn Đán).

Giỗ 20 tháng 9. Mộ tại Mả Đài

Vợ:

Con: Ninh Thị Thúy

24. Ninh Viết Nhạ (Con cụ Ninh Văn Đán).

Vợ: Trương Thị Hòa

Các con:

- Ninh Viết Quang

- Ninh Viết Hải

- Ninh Thị Hạnh

- Ninh Thị Hằng

25. Ninh Viết Tạ.

Liệt sỹ. Giỗ 12 tháng 5

26. Ninh Viết Thỉnh.

Sinh 1953

Vợ: Phạm Thị Tự. Sinh 1954

Các con:

- Ninh Viết Tiến

- Ninh Văn Thịnh

- Ninh Thị Lộc

27. Ninh Viết Thụy.

Sinh 1956

Vợ: Phạm Thị Sáu

Các con:

- Ninh Thị Hoạt

- Ninh Viết Cường

- Ninh Viết Việt

28.  Ninh Viết Cẩn.

Sinh 1962

Vợ: Phạm Thị Tuyến

Các con:

- Ninh Viết Hiếu

- Ninh Thị Khuyên

- Ninh Thị Linh

29. Ninh Văn Đưởng (Con cụ Ninh Văn Thoan).

Sinh 1930

Vợ: Ninh Thị Nho

Các con:

- Ninh Văn Long

- Ninh Văn Đức

- Ninh Văn Toàn

- Ninh Thị Xuân

- Ninh Thị Mai

- Ninh Thị Lan

30. Ninh Khắc Vận (Con cụ Ninh Văn Thoan).

Sinh 1939. Giỗ 11 tháng 10. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Phạm Thị Oanh

Các con:

- Ninh Khắc Lưu

- Ninh Văn Hùng

- Ninh Văn Dũng

- Ninh Thị Thoa

31. Tự Thiện Ngữ (Con cụ Ninh Duy Nghị)

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

32. Tự Tảo Cổ (Con cụ Ninh Duy Nghị)

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

33. Tự Tảo H (Con cụ Ninh Duy Nghị)

Vợ: không thấy ghi

Các con: không thấy ghi

34. Ninh Văn Đâng (Con cụ Ninh Văn Tợi).

Sinh 1916. Giỗ 21 tháng 12

Vợ: Phạm Thị Cần. Sinh 1918. Giỗ 1 tháng 3

Các con:

- Ninh Văn Doanh

- Ninh Văn Loát

- Ninh Thị Quất

- Ninh Thị Sen

35. Ninh Văn Đân, tự Phúc Đân (Con cụ Ninh Văn Tợi).

Sinh 1919. Giỗ 18 tháng 6. Mộ tại Mả Đài.

Vợ: Vũ Thị Ca. Sinh 1919

Các con:

- Ninh Văn Trường

- Ninh Thị Am

- Ninh Thị Lam

36. Ninh Văn Tý (Con cụ Ninh Văn Tợi).

Sinh 1927

Vợ: Trương Thị Châu

Các con:

- Ninh Đức Toản

- Ninh Đức Văn

- Ninh Đức Tuyên

- Ninh Thị Ngoan

- Ninh Thị Vân

- Ninh Thị Sinh

- Ninh Thị Viên – Ninh Thị Hiên

37. Ninh Văn Mão (Con cụ Ninh Văn Vinh).

Giỗ 19 tháng 1. Mộ tại Mả Đài

Vợ: Phạm Thị Hảo

Các con:

- Ninh Văn Ngải

- Ninh Văn Hùng

- Ninh Văn Bằng

- Ninh Thị Hào

- Ninh Thị Hà

38. Ninh Văn Dậu (Con cụ Ninh Văn Vinh).

Sinh 1928.

Vợ: Trương Thị Dinh. Sinh 1930

Các con:

- Ninh Văn Mùi

- Ninh Văn Dung

- Ninh Văn Chiến

- Ninh Văn Dũng

- Ninh Văn Tiến

- Ninh Văn Tiện

- Ninh Văn Duyên

- Ninh Văn Phòng

<đang chỉnh sửa tiếp>